|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17/9/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Văn Đông
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lương Văn Duẩn.
2/ Bà Phan Thị Duệ.
- Thư ký phiên toà: Bà Vị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 33/2024/TLST – HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Lữ Thị Đ, sinh năm: 1991.
Nơi ĐKHKTT: bản Xăng Cọc, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.
Tạm trú tại: bản L, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
-
Bị đơn: Anh Hà Văn S, sinh năm: 1988.
Trú tại: bản X, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. (Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2024 và qua lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lữ Thị Đ trình bày:
Chị Lữ Thị Đ đăng ký kết hôn với anh Hà Văn S vào ngày 23/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian, sau đó bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Hà Văn S không tu chí làm ăn vun vén xây dựng hạnh phúc gia đình, mà thường xuyên ham chơi, tụ tập bạn bè rượu chè, tham gia cờ bạc dẫn đến nợ nần, từ đó vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống chung luôn trong tình trạng căng thẳng không có hạnh phúc, hai vợ chồng sống ly thân kể từ năm 2022 cho đến nay, giữa hai bên không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên thường xuyên xảy cãi vã va chạm, chị Lữ Thị Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh Hà Văn S.
Về con chung: Trong thời gian sống chung với nhau, giữa chị Lữ Thị Đ và anh Hà Văn S có hai người con chung sinh đôi là Hà Thanh B và Hà Thanh P, đều sinh vào ngày 21/6/2013. Giải quyết ly hôn chị Lữ Thị Đ yêu cầu giao hai người con chung chưa thành niên cho chị trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và không yêu cầu buộc anh Hà Văn S thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lữ Thị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Hà Văn S, sau khi thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, bản sao đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn, cũng như giấy triệu tập, các văn bản tố tụng khác cho anh S theo quy định, vì lý do công việc cá nhân anh S không có mặt ở nhà trong những lần tống đạt các văn bản tố tụng, qua xác minh lấy lời khai người thân anh S cho biết bản thân anh S đăng ký nơi thường trú và có nơi ở ổn định tại bản X, xã C, hiện nay vẫn đang cư trú, sinh sống tại địa phương, do đó người thân anh S là ông Hà Văn T bố đẻ đã ký nhận thay các văn bản tố tụng đồng thời cam kết thông báo và giao tận tay cho anh S biết để tham gia giải quyết vụ án hoặc có văn bản phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi nhận được thông báo yêu cầu có mặt tham gia giải quyết vụ án không rõ vì lý do, nguyên nhân vì sao anh S vẫn không có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo yêu cầu của Tòa án, cũng như không gửi văn bản ghi ý kiến phản hồi của mình đối với những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định, nên Tòa án tiếp tục tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tiến hành ghi nhận ý kiến, nguyện vọng của con chung chưa thành niên từ đủ 07 tuổi đến dưới 18 tuổi đối với hai người con chung là Hà Thanh B, sinh ngày 21/6/2013 và Hà Thanh P, sinh ngày 21/6/2013 các con chung đều trình bày nguyện vọng, nếu chị Lữ Thị Đ và anh Hà Văn S không chung sống với nhau nữa thì các con chung mong muốn được ở cùng với chị Lữ Thị Đ.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Châu tại phiên tòa, qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc tiến hành thủ tục tố tụng tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có mặt tham gia giải quyết vụ việc theo giấy triệu tập, tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn không có mặt thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn tiếp tục vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó cần xem xét áp dụng quy định bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với các đương sự theo quy định.
Đề nghị áp dụng các Điều 51; 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28; 35; 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, để xét xử:
Về quan hệ hôn nhân cần chấp nhận đơn khởi kiện, cho chị Lữ Thị Đ được ly hôn anh Hà Văn S.
Xem xét giao hai người con chung Hà Thanh B, sinh ngày 21/6/2013 và Hà Thanh P, sinh ngày 21/6/2013 cho chị Lữ Thị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hà Văn S là phù hợp, bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung và nợ chung, bị đơn không có ý kiến phản hồi đối với phần tài sản và nợ chung theo ý kiến trình bày của nguyên đơn, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Buộc nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Lữ Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Hà Văn S, đề nghị giao các con chung chưa thành niên cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản chung của vợ chồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 51 luật Hôn nhân và gia đình và khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1.1] Căn cứ quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn anh Hà Văn S có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở thường xuyên tại bản X, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
[1.2] Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, bị đơn đã được tống đạt các văn bản tố tụng và thông báo cho biết sự việc nguyên đơn khởi kiện đối với mình theo quy định nhưng cố tình vắng mặt không tham gia giải quyết vụ án theo quy định, căn cứ hướng dẫn Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, xác định vụ án thuộc trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt nên Tòa án tiếp tục tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục chung là đúng quy định. Trước khi vụ án được đưa ra xét xử nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa, bị đơn tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng tại phiên tòa là đúng quy định.
[1.3] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Bị đơn được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng không thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự, cố tình vắng mặt và không có văn bản phản hồi ý kiến đối với những yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc giải quyết vụ án tại Tòa án theo quy định, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lữ Thị Đ đăng ký kết hôn với anh Hà Văn S theo quy định của pháp luật vào ngày 23/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo về điều kiện kết hôn và thủ tục đăng ký theo đúng quy định của pháp luật, nên hôn nhân được công nhận hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian, sau đó bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Hà Văn S không tu chí làm ăn vun vén xây dựng hạnh phúc gia đình, thường xuyên ham chơi, tụ tập bạn bè rượu chè, tham gia cờ bạc dẫn đến nợ nần nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, cuộc sống chung luôn trong tình trạng căng thẳng không có hạnh phúc, không có sự thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, hai bên sống ly thân từ năm 2022 đến nay không thể hàn gắn đoàn tụ để tiếp tục sống chung. Quá trình giải quyết vụ án và xác minh tại địa phương về mâu thuẫn vợ chồng cho thấy, giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải, nguyên đơn kiên quyết giữ nguyên ý kiến yêu cầu giải quyết ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lữ Thị Đ giải quyết cho ly hôn đối với anh Hà Văn S.
[4] Về con chung: Qua xem xét tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp, xác minh về hoàn cảnh, môi trường sống và khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng cũng như nguyện vọng của các con chung và ý kiến của đương sự, xét thấy rằng việc giao nuôi con chung chưa thành niên sau khi vợ chồng ly hôn cần phải đảm bảo quyền lợi tốt nhất về mọi mặt cho sự phát triển, trưởng thành của các con chung về sau này. Xét thấy nguyên đơn và bị đơn tuy đều có sức khỏe, đang độ tuổi lao động và có thu nhập để đảm bảo nuôi con, tuy nhiên từ lúc ly thân anh S ít có sự quan tâm, chăm sóc, gần gũi các con nên không thể đảm bảo tốt nhất việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung, qua xác minh tại địa phương trong thời gian vợ chồng sống ly thân chị Đ là người thường xuyên có sự quan tâm, chăm sóc, gần gũi với các con hơn nên cần tiếp tục xem xét giao các con chung cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng để không làm xáo trộn về nơi ở, sinh hoạt và học tập của các con chung, tạo sự gần gũi về tình cảm gia đình và phù hợp với tâm sinh lý phát triển của các con chung sau này, ghi nhận nguyện vọng của các con chung và ý kiến trình bày của đương sự phù hợp với tài liệu, chứng cứ khách quan thu thập có trong hồ sơ, xét thấy việc giao các con chung cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên, chị Đ không yêu cầu buộc anh anh S thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị, bản thân chị Đ đảm bảo được việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con chung về mọi mặt cho đến lúc các con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh S không có mặt tham gia giải quyết vụ án nên không có căn cứ chứng minh về điều kiện kinh tế, thu nhập và khả năng cấp dưỡng nuôi con chung, do đó xem xét tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh S là phù hợp.
[5] Tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lữ Thị Đ không yêu cầu Toà án giải quyết, bị đơn anh Hà Văn S không có mặt tham gia giải quyết vụ án và không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với phần tài sản chung của vợ chồng gửi Tòa án xem xét. Xét thấy rằng, ý kiến nguyên đơn đề nghị không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần tài sản và nợ chung của vợ chồng không nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc với bên thứ ba, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận không xem xét giải quyết đối với tài sản chung của vợ chồng. Phần tài sản chung, nợ chung của vợ chồng chưa giải quyết (nếu có), sau này xảy ra tranh chấp các bên có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết bằng một vụ án khác theo quy định của pháp luật.
[6] Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 81; 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chị Lữ Thị Đ được ly hôn anh Hà Văn S.
-
Về con chung: Giao hai người con chung Hà Thanh B, sinh ngày 21/6/2012 và Hà Thanh P, sinh ngày 21/6/2012 cho chị Lữ Thị Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến lúc con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hà Văn S.
Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 luật Hôn nhân và Gia đình thì Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định hoặc buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 119 luật Hôn nhân và Gia đình.
- Về án phí: Chị Lữ Thị Đ chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ trong số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số: 0009847 ngày 17/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An.
Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Hà Văn Đông |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Đ và anh S đăng ký kết hôn theo quy định, sau khi mâu thuẫn xảy ra đã sống ly thân với nhau, có 02 người con chung chưa thành niên. Quá trình giải quyết vụ án chị Đ tham gia giải quyết còn anh S cố tình trốn tránh không có mặt làm việc.
