Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày 17/5/2024

V/v "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    • 1. Ông Trần Hải Đăng
    • 2. Bà Nguyễn Thị Cương
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hoa - Thư ký Tòa án
  • - Đại diện VKSND huyện Yên Thế tham gia phiên tòa: Ông Ngô Đức N - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2023/TLST-HNGĐ ngày 18/12/2023 về việc “yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/4/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Bùi Văn N1, sinh năm 1976 (xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
  • - Bị đơn: Chị Trịnh Thị M, sinh năm 1980 (xin vắng mặt)
  • ĐKHKTT: Thôn Trại Đảng, xã Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
  • Nơi ở: Thôn Đồng Tâm, xã Đồng Kỳ, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh N1 trình bày:

Anh và chị M được tự do tìm hiểu lẫn nhau, đến ngày 12/10/1996 gia đình có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng do chị M chưa đủ tuổi nên anh và chị M không đi đăng ký kết hôn. Anh và chị M chung sống từ khi cưới cho đến nay vẫn chưa đi đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống thời gian đầu sống hòa thuận. Đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi nhau. Anh và chị M đã sống ly thân từ tháng 1/2019 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn đã kéo dài, không thể chung sống với chị M được nữa nên anh đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh và chị M về đề nghị được ly hôn với chị Trịnh Thị M.

Về con chung: Anh và chị M có 02 con chung là Bùi Xuân H, sinh năm 1997 và Bùi Thị Kim H1, sinh năm 2005 hiện hai con chung vẫn khỏe mạnh và phát triển bình thường, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà hôm nay anh N1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

*Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai bị đơn là bà H2 trình bày:

Chị và anh N1 có tìm hiểu nhau rồi được gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương vào năm 1996, do lúc đó chị chưa đủ tuổi nên không đi đăng ký kết hôn và đến giờ cũng chưa đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống thời kỳ đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến đầu năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong sinh hoạt hằng ngày, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Tháng 1/2019 chị bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống và ly thân từ đó cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn phía anh N1 xin ly hôn chị đồng ý.

- Về con chung: Chị và anh N1 có 02 con chung là Bùi Xuân H, sinh năm 1997 và Bùi Thị Kim H1, sinh năm 2005, các con khỏe mạnh, phát triển bình thường, đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

- Về tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ chung về tài sản, ruộng canh tác, công nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà chị M có đơn xin vắng mặt.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Không công nhận anh Bùi Văn N1 và chị Trịnh Thị M là vợ chồng. Ngoài ra còn đề nghị giải quyết về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Quan hệ pháp luật: Tòa án nhân dân huyện Yên Thế nhận đơn khởi kiện của anh N1 về yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh với chị M. Việc khởi kiện của anh N1 được xác định là yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được quy định tại khoản 7, 8 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự

[2] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Anh N1 khởi kiện yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng Trịnh Thị M, sinh năm 1980. ĐKHKTT: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nơi ở: Thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Yên Thế đã thụ lý giải vụ án là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa, anh N1, chị M đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những đương sự này là đúng quy định tại Điều 227 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh N1, chị M chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1996, có tổ chức đám cưới theo phong tục, tập quán địa phương.

Theo biên bản xác minh với chính quyền địa phương và biên bản xác minh tại UBND xã Đ đều không có tài liệu nào thể hiện việc anh N1, chị M làm thủ tục đăng ký kết hôn. Do đó, việc hai người chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, do hai người quyết định, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Như vậy, việc chung sống với nhau như vợ chồng giữa anh N1, chị M đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 về Đăng ký kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình. Anh N1, chị M có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, đã chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng nên phải chịu hậu quả của việc chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, được quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, sau khi chung sống với nhau được một thời gian, thì giữa anh N1, chị M đã xẩy ra mâu thuẫn, đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Xét mâu thuẫn giữa anh N1, chị M đã trầm trọng, không thể hàn gắn được với nhau vì tình cảm không còn, anh N1 có yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng nên căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình, tuyên bố quan hệ giữa hai nguời không được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[3] Về nuôi dưỡng con chung: Anh N1, chị M có 02 con chung là Bùi Xuân H, sinh năm 1997 và Bùi Thị Kim H1, sinh năm 2005, đều khỏe mạnh, phát triển bình thường đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên không xem xét.

[4] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị M, anh N1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Anh N1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266; Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Bùi Văn N1 và chị Trịnh Thị M là vợ chồng.
  2. Về án phí: Anh Bùi Văn N1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004801 ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thế. Xác nhận anh Bùi Văn N1 đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Thế;
  • - CCTHADS huyện Yên Thế;
  • - UBND xã Đồng Kỳ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhạc ly hôn Mến
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger