Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày: 17/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI

TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Phường.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thủy và ông Nguyễn Văn Ánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Jét - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Tuấn Kiệt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 19/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Đặng Hoàng Q, sinh năm: 1979 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Tin Lành; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 04/12; Cha tên: Đặng Hoàng T (Đã chết); Mẹ tên: Lê Thị H, sinh năm: 1949; Vợ: Trần Thị Mỹ H1 (Chết); Con: Bị cáo có 02 người con sinh năm 2004 và 2006; Tiền sự và tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 24/7/1998 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản công dân”, chấp hành xong ngày 04/02/2000 và đã được xóa án tích; Ngày 07/9/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian bản án chưa có hiệu lực pháp luật, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tạm giữ: Không; Tạm giam: Ngày 17/10/2023; Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T.
  2. Lê Thanh Đ, sinh năm: 1989 tại Đồng Tháp; Đăng ký HKTT: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Cha tên: Lê Thanh S, sinh năm 1964; Mẹ tên: Hồ Thị C, sinh năm: 1966; Vợ: Huỳnh Thị Huỳnh N, sinh năm 1992 (Đã ly hôn); Con: Bị cáo có 01 người con sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 07/5/2009, bị Tòa án nhân dân thị xã Sa Đéc xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2009, đến ngày 15/3/2016 trong khi chưa chấp hành xong phần dân sự của Bản án số 36/2009/HSST ngày 07/5/2009 thì tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 22/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 15/3/2022 (Cả 2 bản án chưa được xóa án tích); Tạm giữ và tạm giam: Không; Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1974;

Địa chỉ: Khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng: Bà Hồ Thị C, sinh năm 1966;

Địa chỉ: Khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

(Các bị cáo có mặt; Bà H2 vắng nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; Bà C vắng không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/9/2023, bị cáo Q bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong thời gian bản án chưa có hiệu lực pháp luật, bị cáo Q tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau: Do biết nhà của bà H2 đang sửa chữa nên vào khoảng 02 giờ ngày 20/9/2023, bị cáo Q từ nhà của mình cùng ở khóm D, thị trấn M đi đến nhà của bà H2 tìm tài sản lấy trộm. Đến nơi, bị cáo Q quan sát thấy cửa không khóa, không có người trông giữ, nên lén lút đi vào nhà vệ sinh ở tầng trệt phát hiện 01 bộ máy nước nóng hiệu Panasonic-Jet pump, Model DH 4RP1 và 01 bộ củ sen kèm vòi hoa sen tắm bằng nhựa được đấu nối với hệ thống điện sinh hoạt của gia đình và được bắt ốc vít cố định trên tường. Bị cáo Q lấy cây tua vít và cây kéo ở cầu thang tháo ốc vít và cắt dây điện lấy trộm máy nước nóng cùng bộ củ vòi hoa sen. Bị cáo Q tiếp tục lên tầng 01, vào nhà vệ sinh lấy trộm thêm 01 máy nước nóng cùng bộ củ vòi hoa sen có đặc điểm giống với bộ máy nước nóng đã lấy trộm ở tầng trệt. Sau đó, bị cáo Q đem toàn bộ tài sản vừa trộm được giấu vào cái áo mưa màu vàng nhặt được ở bên hông nhà, ôm trước bụng đi đến khu vực gần Ngân hàng S2 thuộc khóm D, thị trấn M, huyện T. Tại đây, bị cáo Q gặp bị cáo Đ và nói cho bị cáo Đ biết vừa trộm được tài sản, kêu bị cáo Đ chở đi cất giấu thì bị cáo Đ đồng ý. Sau đó, bị cáo Đ điều khiển xe mô tô biển số 66N2 - 4993 chở bị cáo Q ngồi sau cầm tài sản vừa trộm được đem về nhà của bị cáo Đ cất giấu dưới gầm giường phía trước nhà. Xong, bị cáo Đ tiếp tục chở bị cáo Q về nhà ngủ còn bị cáo Đ cũng quay về nhà của mình.

Đến khoảng 07 giờ ngày 20/9/2023, bà H2 phát hiện bị mất trộm các tài sản trên nên trình báo sự việc đến Công an thị trấn M. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T mời bị cáo Q làm việc, tại Cơ quan điều tra bị cáo Q thừa nhận đã lấy trộm tài sản như đã nêu trên đồng thời khai nhận nơi cất giấu tài sản.

Tại Kết luận định giá tài sản số 41/KLĐG ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Tài sản gồm 02 bộ máy nước nóng hiệu Panasonic-Jet pump, Model DH 4RP1 và 02 bộ củ sen kèm vòi hoa sen tắm bằng nhựa của bà Nguyễn Thị H2 tại thời điểm bị chiếm đoạt có tổng giá trị là 8.720.000 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo Q khai nhận việc đi trộm tại nhà bà H2 có sự tham gia giúp sức của bị cáo Đ. Cụ thể, bị cáo Q khai khoảng hơn 22 giờ ngày 19/9/2023, bị cáo Đ đến nhà bị cáo Q để thăm con gái bị cáo Q bị tai nạn giao thông, sau đó cả hai cùng nhau đi uống nước tại khu vực Bệnh viện Đ1. Đến khoảng 02 giờ ngày 20/9/2023, bị cáo Q rủ bị cáo Đ đi trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài thì bị cáo Đ đồng ý và chở bị cáo Q đi đến nhà bà H2. Bị cáo Đ đứng bên ngoài cách nhà bà H2 khoảng 30m, bị cáo Q vào nhà lấy trộm tài sản như trên rồi ra xe cho bị cáo Đ chở tài sản đem về nhà bị cáo Đ cất giấu. Bị cáo Đ không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản mà cho rằng trong lúc điều khiển xe mô tô biển số 66N2 - 4993 (mượn của anh Trần Văn P) đi dạo ngang khu vực gần Ngân hàng S2 thì nghe tiếng bị cáo Q gọi nên dừng lại, tại đây bị cáo Q nói cho bị cáo Đ biết vừa trộm được tài sản và nhờ bị cáo Đ chở đi cất giấu tài sản thì bị cáo Đ đồng ý. Sau đó, do đau bụng nên bị cáo Đ chở bị cáo Q về nhà của mình ở khu dân cư K, thị trấn M để đi vệ sinh. Trong lúc bị cáo Đ đi vệ sinh thì bị cáo Q cất giấu tài sản ở đâu thì bị cáo Đ không biết, sau đó bị cáo Đ chở bị cáo Q về nhà.

Từ lời khai nhận của các bị cáo Q và Đ, vật chứng đã được thu giữ có cơ sở để xác định, bị cáo Đ đã có hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ:

  • 02 máy nước nóng bằng nhựa, màu trắng đen, có hai nút vặn hình tròn màu trắng trên phần nền đen, trên thân máy có chữ Panasonic màu đen ở trên, chữ Jet Pump màu đen nằm dưới; 02 đoạn ống nhựa và 02 vòi sen bằng nhựa. Xét không cần thiết tạm giữ, Cơ quan điều tra đã trao trả các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu là bà H2.
  • 01 áo mưa màu vàng.
  • 01 đôi dép nhựa màu đỏ, đen có chữ Wel màu trắng; 01 quần jean dài, màu xám; 01 áo thun ngắn tay màu xanh, đen. Đây là trang phục bị cáo Quốc mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội.
  • 01 quần jean dài, màu xanh xám; 01 áo thun đen có cổ, ngắn tay; 01 mũ lưỡi trai màu nâu, trắng có viền màu đỏ, xanh; 01 đôi dép quai màu đen, trắng. Đây là trang phục bị cáo Đ mặc lúc thực hiện hành vi phạm tội.

Về trách nhiệm dân sự: Bà H2 đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSTM ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười đã truy tố bị cáo Q về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Đ về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Q với mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù.
  • Áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo Q phải chấp hành hình phạt 10 tháng tù của Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.
  • Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đ với mức án từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.
  • Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có việc làm ổn định và có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Ý kiến của bà H2: Theo đơn xin xét xử vắng mặt ngày 15/12/2023 thì bà H2 trình bày là đã nhận lại tài sản trong vụ án này, bà H2 không còn yêu cầu gì và xin được vắng mặt các phiên tòa xét xử các cấp.

Đối với bà C mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng bà C vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bà C cũng không có gửi cho Tòa án văn bản ý kiến gì nên tại giai đoạn xét xử sơ thẩm không ghi nhận ý kiến của bà C.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 19/CT-VKSTM ngày 10/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là đúng với hành vi của các bị cáo.

Đối với bị cáo Q đã lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại nên đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 02 bộ máy nước nóng và 02 bộ củ sen kèm vòi hoa sen tằm bằng nhựa của bà H2 vào ngày 20/9/2023 tại nhà của bà H2 thuộc địa bàn khóm D, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Q đã chiếm đoạt là 8.720.000 đồng (Tám triệu, bảy trăm hai mươi nghìn đồng).

Đối với bị cáo Đ mặc dù biết rõ tài sản do bị cáo Q vừa trộm được nhưng bị cáo Đ vẫn đồng ý chở bị cáo Q cùng các tài sản này để tìm nơi cất giấu và nơi cất giấu là tại nhà của bị cáo Đ thuộc địa bàn khóm B, thị trấn M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng, kết luận định giá và các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

[4] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận, hành vi phạm tội của bị cáo Q đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và bị cáo Đ đã cấu thành tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 của Bộ luật hình sự.

[5] Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại một cách trái pháp luật, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương nơi xảy ra vụ án. Bản thân các bị cáo đã từng bị Tòa án xét xử nhưng nay vẫn thực hiện hành vi trên chứng tỏ các bị cáo xem thường pháp luật. Các bị cáo muốn nhanh chóng có tài sản để phục vụ cho nhu cầu cá nhân của bản thân mà khỏi phải tốn mồ hôi và công sức lao động như bao nhiêu người lao động lương thiện trong xã hội nên các bị cáo đã chủ động tìm sự sơ hở, mất cảnh giác của bị hại, để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của họ, trong vụ án này các bị cáo đã thực hiện tội phạm vì động cơ tư lợi, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Với hành vi nêu trên, xét thấy cần áp dụng cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian học tập, cải tạo, trở thành người tốt, có ích cho gia đình và cho xã hội sau này, đồng thời đấu tranh phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Đối với bị cáo Q đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đồng thời, bị cáo có ông ngoại tên Lê Văn Q1 được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến hạnh nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
  • Đối với bị cáo Đ tại giai đoạn điều tra, truy tố do không hiểu pháp luật nên không nhận tội nhưng sau khi được Hội đồng xét xử giải thích các quy định của pháp luật có liên quan thì bị cáo Đ đã hiểu và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, bị cáo Đ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có việc làm ổn định và có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại đã nhận lại tất cả tài sản bị chiếm đoạt và bị hại không còn yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[10] Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 đôi dép quai màu đen trắng, 01 quần Jean dài màu xanh xám, 01 áo thun ngắn tay màu xanh đen. Đây là tài sản của cá nhân bị cáo Q không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Q.
  • Đối với 01 đôi dép nhựa màu đỏ đen có chữ Wel màu trắng, 01 quần Jean dài màu xám, 01 áo thun ngắn tay màu xanh đen có cổ, 01 mũ lưỡi trai màu nâu trắng có viền màu đỏ xanh. Đây là tài sản của cá nhân bị cáo Đ không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Đ.
  • Đối với 01 áo mưa màu vàng. Đây là dụng cụ bị cáo Q dùng để thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án này và hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[12] Đối với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười. Xét thấy, từ những phân tích như trên xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[13] Đối với anh P là người cho bị cáo Đ mượn xe mô tô biển số 66N2 - 4993, anh P không biết việc bị cáo Đ dùng chiếc xe này vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý anh P là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[14] Đối với bị cáo Q đã bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 55/2023/HS-ST ngày 07/9/2023. Trong thời gian Bản án chưa có hiệu lực pháp luật, bị cáo Q tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trong vụ án này. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Q.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Hoàng Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng Q 01 (Một) năm tù. Đồng thời, căn cứ vào Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Q phải chấp hành hình phạt chung là 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 17/10/2023.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q.
  2. Tuyên bố bị cáo Lê Thanh Đ phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
    • Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 323, Điều 38, Điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thanh Đ 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
    • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đ.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Trả lại cho bị cáo Q 01 đôi dép quai màu đen trắng, 01 quần Jean dài màu xanh xám, 01 áo thun ngắn tay màu xanh đen.
    • Trả lại cho bị cáo Đ 01 đôi dép nhựa màu đỏ đen có chữ Wel màu trắng, 01 quần Jean dài màu xám, 01 áo thun ngắn tay màu xanh đen có cổ, 01 mũ lưỡi trai màu nâu trắng có viền màu đỏ xanh.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 áo mưa màu vàng.

    (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tháp Mười đang quản lý vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/11/2023).

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Q và Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
  7. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh, Huyện;
  • - TAND Tỉnh;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Nhà tạm giữ Công an Huyện;
  • - Chi cục THADS Huyện;
  • - Bị cáo, các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VP, (Jet).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Phường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản và chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Hoàng Q - Nguyễn Văn Đ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger