Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17 - 4 - 2024

V/v: Ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trí Chinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Xanh;

Ông Đoàn Xuân Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị P; sinh năm 1984; nơi thường trú: Thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: #101 Tòa nhà B, G, 159-6 S, Chowol-eup, G-si, Hàn Quốc; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Đào Văn Đ; sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn H, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị P đã hợp pháp hóa lãnh sự tại Đ1 tại Hàn Quốc) trình bày:

Chị và anh Đào Văn Đ đăng ký kết hôn ngày 30/5/2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y (nay là thị xã Q), tỉnh Quảng Ninh. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận nhưng sau vài năm thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Đến năm 2015, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thường xuyên, trầm trọng hơn, không có cách nào giải quyết. Nguyên nhân chủ yếu do vợ bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Năm 2020, vì cuộc sống gia đình và cũng do mâu thuẫn của vợ chồng nên chị P đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc để xây dựng kinh tế. Hiện tại, vợ chồng xác định không thể chung sống với nhau được nữa, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nên chị P đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đào Văn Đ.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Đào Văn H, sinh ngày 26/10/2000 và cháu Đào Văn H1, sinh ngày 23/10/2005. Hiện nay, cả hai con chung đều đã trưởng thành, có thể tự quyết định cuộc sống của mình nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị P không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai của anh Đào Văn Đ thể hiện: nội dung phù hợp với quan điểm của chị Nguyễn Thị P trình bày nêu trên. Anh Đ đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Thị P.

Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Đào Văn H, sinh ngày 26/10/2000 và cháu Đào Văn H1, sinh ngày 23/10/2005. Hiện nay, cả hai con chung đều đã trưởng thành, có thể tự quyết định cuộc sống của mình nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: anh Đào Văn Đ không đề nghị Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: chị Nguyễn Thị P và anh Đào Văn Đ đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn của Ủy ban nhân dân tỉnh Q thì chị Nguyễn Thị P và anh Đào Văn Đ đăng kí kết hôn ngày 30/5/2002. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, hòa thuận nhưng sau vài năm thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Đến năm 2015, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng thường xuyên, trầm trọng hơn, không có cách nào giải quyết. Nguyên nhân chủ yếu do vợ bất đồng quan điểm sống, tính cách không thể hòa hợp, không có tiếng nói chung, tình cảm vợ chồng không còn như ban đầu. Mặc dù vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện để hàn gắn, được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không có kết quả. Năm 2020, vì cuộc sống gia đình và cũng do mâu thuẫn của vợ chồng nên chị P đi xuất khẩu lao động ở Hàn Quốc để xây dựng kinh tế. Hiện tại, vợ chồng xác định không thể chung sống với nhau được nữa, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Chị P xin ly hôn, anh Đ đồng ý ly hôn. Xét thấy việc thuận tình ly hôn của chị P và anh Đ là hoàn toàn tự nguyện, hai anh chị đều xác định mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị P và giải quyết cho chị P được ly hôn với anh Đ là phù với quy định tại Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là cháu Đào Văn H, sinh ngày 26/10/2000 và cháu Đào Văn H1, sinh ngày 23/10/2005. Hiện nay, cả hai con chung đều đã trưởng thành, có thể tự quyết định cuộc sống của mình nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Thị P và anh Đào Văn Đ đều khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: chị Nguyễn Thị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị P.

1. Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Đào Văn Đ.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị P phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0005775 ngày 05/3/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

3. Về quyền kháng cáo: Anh Đào Văn Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật; chị Nguyễn Thị P biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Liên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Trí Chinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị P - Đào Văn Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger