|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 17-4-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Hoa
Ông Trần Văn Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Hữu T, sinh ngày 22 tháng 9 năm 1988 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Quyết T1 và bà Dương Thị C; vợ là Lại Thị C1; có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Nguyễn Lăm M, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 21/5/2023, ông Nguyễn Lăm M, cùng vợ tên Trương Thị Út H,thường trú ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang, đi ra vuông phía sau nhà dở lú, do nước cạn nên ông M đi bộ trên bờ vuông giáp ranh với vuông của bị can Trần Hữu T, còn bà H bơi xuồng dưới vuông. Trong lúc đi trên bờ vuông ông M thấy cua của ông M bò lên bờ nên bắt ném xuống vuông của ông M, cùng lúc này bị can T cùng vợ tên Lại Thị C1, đi canh giữ vuông thì thấy ông M bắt cua, cho rằng ông M bắt cua phía bên bờ vuông của mình nên giữa bị can T với ông M xảy ra cự cải dẫn đến đánh nhau, bị can T vật ông M té nằm xuống bờ vuông, bị can ngồi trên người ông M dùng tay đánh vào mặt ông M. Lúc này bà C1 và bà H chạy lại can ngăn nắm hai tay bị can T kéo ra, ông M dùng tay bóp bộ phận sinh dục của bị can T nên bị can T cắn vào vùng trán và đầu của ông M, dùng tay càu trúng vào hai mắt của ông M, ông M cắn vào ngón trỏ bàn tay phải của bị can T một cái làm chảy máu. Bị can T đứng dậy, ông M bỏ chạy vào nhà, sau đó được đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh K điều trị thương tích. Ngày 29/5/2023, có đơn gửi Cơ quan điều tra yêu cầu giám định thương tích và xử lý hình sự đối với Trần Hữu T.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 85/QĐ-ĐT ngày 30/8/2023, trưng cầu Trung tâm P giám định thương tích của ông Nguyễn Lăm M.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 704/KLTTCT-PY ngày 14/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P, kết luận thương tích của ông Nguyễn Lăm M như sau:
- Các kết quả chính:
- Kết quả khám giám định:
- + Vết thương vùng mặt (trán trái) nứt (vỡ) thành trước xoang trán trái xương không di lệch.
- + Chấn thương phần mềm vùng thái dương trái, hiện tại để lại vết biến đổi sắc tố da.
- + Chấn thương phần mềm vùng 2 mắt, hiện tại không thấy dấu vết thương tích do đã thương.
- Kết quả cận lâm sàng:
- + Kết quả CT - Scan sọ não tái tạo 3D: Nứt thành trước xoang trán trái.
- + Kết quả điện não đồ: Không phát hiện sóng động kinh hay sóng chậm bất thường tại thời điểm đo trên bảng ghi.
- Kết quả khám giám định:
- Kết luận:
- Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Lăm M tại thời điểm giám định là: 13% (Mười ba phần trăm) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Vật gây thương tích:
- - Thương tích vùng mặt (trán trái) do vật tày có cạnh gây nên.
- - Chấn thương phần mềm vùng thái dương trái và 2 mắt do vật tày gây nên.
- Về cơ chế hình thành thương tích:
- - Thương tích vùng mặt (trán trái) do vật tày có cạnh tác động theo hướng từ trước ra sau so với trục giải phẫu cơ thể.
- - Chấn thương phần mềm vùng thái dương trái do vật tày tác động theo hướng từ sau ra trước và từ trái sang phải so với trục giải phẫu cơ thể.
- - Chấn thương phần mềm vùng 2 mắt do vật tày tác động theo hướng từ trước ra sau so với trục giải phẫu cơ thể.
Tại Cơ quan điều tra bị can Trần Hữu T khai nhận toàn bộ hành vi gây thương tích cho ông Nguyễn Lăm M.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra không có thu giữ vật chứng.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là ông Nguyễn Lăm M yêu cầu bị can Trần Hữu T bồi thường các khoản chi phí tổng cộng là 16.098.000 đồng. Bị can T đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, nhưng hiện tại chỉ có khả năng bồi thường trước số tiền 3.000.000 đồng, ông M không đồng ý nhận và đề nghị xem xét giải quyết tại tòa.
Tại Cáo trạng số 04/CT-VKS-AM ngày 04-01-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Trần Hữu Thọ về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Trần Hữu T phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu T từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; về trách nhiệm dân sự, bị hại đã bồi thường đầy đủ, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng truy tố. Về trách nhiệm dân sự chấp nhận bồi thường cho bị hại chi phí điều trị thương tích và các khoản khác tổng cộng 16.098.000 đồng, hiện đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh 3.000.000 đồng, số tiền còn lại 13.098.000 đồng đã giao tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Bị hại trình bày: yêu cầu bị cáo bồi thường 16.098.000 đồng, nhận tại tòa 13.098.000 đồng, đồng ý nhận số tiền 3.000.000 do bị cáo nộp tại Thi hành án; không yêu cầu bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự đề nghị xử đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 21/5/2023 tại ấp G X, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang do nghi ngờ anh Nguyễn Lăm M bắt cua trong vuông của bị cáo nên giữa bị cáo T và anh M xảy ra cự cãi dẫn đến đánh nhau, bị cáo ngồi trên người và dùng tay đánh vào mặt anh M, anh M dùng tay bóp bộ phận sinh dục của bị cáo nên bị cáo dùng miệng cắn vào vùng trán và đầu của anh M, dùng tay cào trúng vào hai mắt của anh M, hậu quả làm cho anh M bị thương. Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 704/KLTTCT-PY ngày 14/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh P kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh M do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là 13%.
[2.2] Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức được việc dùng miệng cắn vào vùng trán và đầu, dùng tay cào trúng vào hai mắt của anh M sẽ gây ra thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 13% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo M phạm tội Cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về hình phạt:
[3.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật, chỉ vì nghi ngờ bị hại bắt trộm cua trong vuông của bị cáo mà bị cáo đã đánh nhau và gây thương tích cho bị hại. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe bị cáo và giáo dục mọi người có ý thức và lựa chọn cách xử sự phù hợp pháp luật khi có mâu thuẫn xảy ra.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và tội phạm đã thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại phiên tòa bị cáo đã thỏa thuận và bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại; bị cáo có thân nhân là người có công với cách mạng (bà ngoại của bị cáo được tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng). HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[3.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội ít nghiêm trọng có khung hình phạt từ 06 tháng đến 03 năm tù nhưng gây mất an ninh trật tự nên việc xử phạt bị cáo bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là không nghiêm, chưa đủ răn đe mà cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm răn đe và phòng ngừa chung. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt thể hiện trước khi phạm tội chưa từng vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo đã bồi thường đầy đủ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại nên việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tập trung không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự. HĐXX thống nhất áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Về trách nhiệm dân sự, bị cáo và bị hại đã thỏa thuận được việc bồi thường. Theo đó, bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số 16.098.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo giao và bị hại đã nhận 13.098.000 đồng; số tiền 3.000.000 đồng bị hại nhận tại thi hành án do bị cáo đã tạm nộp. Ngoài ra bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét.
[5] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu T phạm tội Cố ý gây thương tích.
- Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự thỏa thuận, bị cáo bồi thường cho bị hại tổng số 16.098.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo giao và bị hại đã nhận 13.098.000 đồng; số tiền còn lại 3.000.000 đồng bị hại Măng được nhận tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh (do bị cáo T đã tạm nộp tại biên lai thu số 0004081 ngày 07/12/2023).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Trần Hữu T chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-4-2024). /.
Căn cứ khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hữu T 06 (sáu) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án (ngày 17-4-2024) về tội Cố ý gây thương tích.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu T phạm tội Cố ý gây thương tích
