|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST Ngày 16/9/2024 “Về việc ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan;
- Ông Nguyễn Văn Thám.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 82/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Thanh N, sinh năm 1977; nơi thường trú: Thôn C, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1976; nơi thường trú: Thôn C, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh N trình bày: Chị N và anh Nguyễn Văn N1 tự nguyện tìm hiểu chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1998 đến ngày 18/12/2000 mới đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Trong thời gian chung sống ông N1 thường xuyên uống rượu, chửi bới, đánh đập. Chị N đã cố gắng chịu đựng nhiều năm để sống vì các con, hiện nay các con đã lớn tình cảm vợ chồng cũng không còn nữa, do vậy Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn N1.
Về việc nuôi con: Chị N và anh N1 có 2 con chung là Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/4/1998 và Nguyễn Thị Quỳnh N2, sinh ngày 18/8/2002. Các con đều đã trên 18 tuổi và tự lập được nên chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Lời khai có tại hồ sơ của bị đơn anh Nguyễn Văn N1 thể hiện: Anh và chị N kết hôn có đăng ký kết hôn, trong thời gian chung sống vợ chồng cũng có mâu thuẫn nhưng không có gì lớn. Anh N1 vẫn muốn vợ chồng tiếp tục chung sống cùng nhau nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ có mặt tại Tòa theo các triệu tập, thông báo của Tòa án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chấp nhận cho chị Đỗ Thị Thanh N ly hôn với anh Nguyễn Văn N1. Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh N yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn N1; nơi thường trú: Thôn C, xã T, thị xã A, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì đây là vụ án về “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai.
[2] Bị đơn anh Nguyễn Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Nguyễn Văn N1.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Thanh N và anh Nguyễn Văn N1 chung sống với nhau như vợ chồng không có đăng ký kết hôn từ năm 2018, đến ngày 18/12/2000 mới đăng ký kết hôn, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình thì quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh N1 xác lập hợp pháp từ ngày 18/12/2000. Trong quá trình chung sống chị N và anh N1 có phát sinh mâu thuẫn nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N1. Theo kết quả xác minh thì vợ chồng chị N và anh N1 trong quá trình chung sống thường xuyên cãi nhau. Nhiều lần Tòa án thông báo hòa giải nhưng anh N1 không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh N1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thanh N với anh Nguyễn Văn N1.
[4] Về việc nuôi con: Chị N và anh N1 có 02 con chung là Nguyễn Văn K, sinh ngày 18/4/1998 và Nguyễn Thị Quỳnh N2, sinh ngày 18/8/2002. Các con đều đã trên 18 tuổi và tự lập được chị N, anh N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh N1 không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, bị đơn anh Nguyễn Văn N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đỗ Thị Thanh N cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Chấp nhận chị Đỗ Thị Thanh N ly hôn với anh Nguyễn Văn N1.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0013106 ngày 10 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã A, chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Văn N1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 16/9/2024. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15(mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Bích Thảo |
4
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI về ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị N yêu cầu ly hôn với anh N1
