|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------- |
|
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày 16/8/2024 Về tranh chấp xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Hà Thị Thanh Liêm.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên tòa: bà Cà Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: ông Nguyễn Bằng Phi - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án thành phố S, Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 91/2024/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2024 về Tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 01/8/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: chị Quàng Thị D, sinh năm 1996. Địa chỉ: bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Quàng Văn Đ, sinh năm 1902. Địa chỉ: bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt không có lý do(đã niêm yết giấy triệu tập và Quyết định đưa vụ án ra xét xử).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 15/4/2024, các tài liệu trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Quàng Thị D trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh Đ đăng ký kết hôn ngày 01/6/2018 tại UBND xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Hôn nhân do hai bên hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Quá trình chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, dẫn đến cãi vã không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ từ 2019 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, thăm hỏi đến nhau, không có khả năng khắc phục mâu thuẫn đoàn tụ gia đình. Chị D đề nghị ly hôn với anh Đ.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh chị có 02 con chung cháu Quàng Văn S, sinh ngày 21/11/2013 và cháu Quàng Văn N, sinh ngày 21/9/2015. Chị D có nguyện vọng giao cả hai con chung cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về tài riêng; Về nợ chung: Không có.
* Bị đơn anh Quàng Văn Đ đã được thông báo thụ lý vụ án, triệu tập nộp các văn bản ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng bị đơn không có văn bản ý kiến nộp, gửi cho Tòa án.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa. Thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án; thực hiện thu thập giao nhận, công khai chứng cứ, niêm yết các văn bản tố tụng đầy đủ đúng quy định. HĐXX, thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về nguyên tác xét xử, thành phần, trình tự xét xử sơ thẩm.
Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên bị đơn chưa thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị D, xử cho chị D được ly hôn anh Quàng Văn Đ, đề nghị giao hai con chung cho anh Quàng Văn Đ trực tiếp trông nom chăm sóc giáo dục đến khi các cháu đủ (18 tuổi) và có khả năng lao động.
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa HĐXX nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền: Xét đơn yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Quàng Thị D khởi kiện xin ly hôn anh Quàng Văn Đ1 địa chỉ cư trú tại bản T, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La theo khoản 1điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Bị đơn đã được thông báo, triệu tập, niêm yết hợp lệ văn bản tố tụng nhiều lần nhưng vẫn không có văn bản ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, vắng mặt tại các phiên họp, hòa giải, xét xử vụ án. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được do bị đơn vắng mặt, nguyên đơn đề nghị Tòa án không hòa giải và đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn theo đúng quy định của pháp luật.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và niêm yết thông báo kết quả cho bị đơn; Qua xác minh anh Đ hiện vẫn sinh sống, lao động tại bản T, xã C, chính quyền địa phương đã giao các tài liệu, văn bản tố tụng cho anh Đ nhưng anh Đ không ký các biên bản giao nhận văn bản tố tụng.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đ vắng mặt lần thứ 2 không có lý do (Tòa án đã tiến hành giaoniêm yết giấy triệu tập, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ). Căn cứ khoản 2 điều 227 và khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử và không hoãn phiên tòa.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Quàng Thị D và anh Quàng Văn Đ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình; có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2018 tại UBND xã C, thành phố S, tỉnh Sơn Lanên được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Về nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là quan điểm tính cách không hợp nhau, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chị D đã bỏ về nhà mẹ đẻ từ 2019 đến nay, trong thời gian ly thân thì không quan tâm lẫn nhau, không có khả năng khắc phục mâu thuẫn để đoàn tụ gia đình. Anh Quàng Văn D1 không có văn bản ý kiến nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương thì hiện nay anh Đ và chị D1 không chung sống cùng nhau, chị D1 đã bỏ đi nơi khác sinh sống, qua nhiều lần khuyên nhủ, động viên nhưng chị D1 kiên quyết xin ly hôn anh Đ. Tòa án xét thấy tình trạng hôn nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị D1 anh Đ đã kéo dài, mục đích hôn nhân xây dựng gia đình hạnh phúc không đạt được, căn cứ điều 51, khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân gia đình, cần xử cho chị D1 được ly hôn anh Đ.
[4] Về con chung: Chị D1 và anh Đ có hai con chung cháu Quàng Văn S, sinh ngày 21/11/2013 và cháu Quàng Văn N, sinh ngày 21/9/2015. Hiện nay các
cháu đang học trường Tiểu học Chiềng Đen và đang được bố là anh Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục tại bản T, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Tòa án đã tiến hành tham khảo ý kiến nguyện vọng của hai cháu, cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở cùng với bố. Hiện nay các cháu đang học trường Tiểu học Chiềng Đen và đang được bố trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại bản T, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La, các cháu đã quen với môi trường sống, sinh hoạt và điều kiện đi lại học tập. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các con chung cần giao cả hai cháu anh Đ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục đến khi đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với quy định tạo các điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình.
[4] Về tài sản chung: Qua ý kiến của chị D1 có trong hồ sơ và qua điều tra, xác minh nhận thấy vợ chồng anh Đ không có tài sản chung và không yêu cầu tòa án giải quyết, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Về tài sản riêng; Về nợ chung: Không có, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Quàng Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điều 51, khoản 1 điều 56; các điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quàng Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Quàng Thị D được ly hôn với anh Quàng Văn Đ.
- Về con chung: Giao hai con chungcháu Quàng Văn S, sinh ngày 21/11/2013 và cháu Quàng Văn N, sinh ngày 21/9/2015 cho anh Quàng Văn Đ2 tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Chị Quàng Thị D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
- Về án phí: Nguyên đơn chị Quàng Thị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000,₫ (Ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001509, ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 22 điều 70, điều 271, điều 272 và điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Lương Anh |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quàng Thị Danh - Quàng Văn Đăng xin ly hôn
