Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phú

Bản án số: 21/2024/DSST

Ngày: 16/5/2024

V/v: « Tranh chấp hợp đồng vay tài sản »

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Quý
  • 2. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện VKSND TP.tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 60/2022/TLST- DS ngày 14 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/QĐXX-ST ngày 19 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn Phiên tòa số 68/2024/QÐST-DS ngày 17/4/2024 và “Thông báo thay thế thành viên những người tiến hành tố tụng” số 25 ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  • 1. Ông Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1961
  • 2. Bà Nguyễn Thị L2 (Đỗ Thị L3), sinh năm 1962

Cùng địa chỉ: Phố T, phường Q, T, tỉnh TH

- Bị đơn: Bà Mai Thị T, sinh năm 1976

Địa chỉ: Phố T, phường Q, T, tỉnh TH

- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1. Ông Nguyễn Đăng N, sinh năm: 1947
  • 2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm: 1949
  • 3. Bà Mai Thị T, sinh năm 1976
  • 4. Chị Nguyễn Mai H, sinh năm 2000
  • 5. Chị Nguyễn Mai C, sinh năm 2002
  • 6. Chị Nguyễn Mai K, sinh năm 2013

Cùng ở địa chỉ: Phố T, phường Q, T, tỉnh TH

- Người giám hộ cho chị Nguyễn Mai K: Bà Bà Mai Thị T, sinh năm 1976 (mẹ đẻ)

Địa chỉ: Phố T, phường Q, T, tỉnh TH Phố TL, phường Q, T, tỉnh TH

- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Hữu L1 Ông Lê Văn P, sinh năm 1996;

Địa chỉ: Số ..., phường Đ, T, tỉnh TH

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Nguyễn Hữu L1: Ông Vũ Văn Q, ông Quản Thiện Quốc Q1, bà Vũ Thùy T1 - Đều là Luật sư của Công ty L7thuộc Đoàn luật sư T5

Cùng có địa chỉ: Công ty L7 - Chi nhánh T6 (Số D Q, phường Đ, TP., tỉnh Thanh Hóa)

(Tại phiên toà có mặt ông Nguyễn Hữu L1, bà Nguyễn Thị L2, ông Lê Văn P, bà Vũ Thùy T1; Vắng mặt bà Mai Thị T, ông Nguyễn Đăng N, bà Nguyễn Thị Đ, chị Nguyễn Mai H, chị Nguyễn Mai C, chị Nguyễn Mai K, ông Vũ Văn Q, ông Quản Thiện Quốc Q1).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/11/2022 nguyên đơn ông Nguyễn Hữu L4và bà Nguyễn Thị L5(tên gọi khác là Đỗ Thị L6 trình bày:

Năm 2020 ông Nguyễn Hữu L4 và bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6) có cho anh Nguyễn Đăng Đ1 vay số tiền 1.700.000.000đ để đầu tư làm ăn nhưng anh Đ1 chưa trả. Ngày 20/9/2022 anh Đ1 chết, số tiền vay của ông bà anh Đ1 vẫn chưa trả. Vì vậy ông bà khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của anh Đ1 (gồm: Bố, mẹ, vợ và các con anh Đ1 phải trả cho ông bà số nợ trên).

Tuy nhiên, tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Hữu L4bà Nguyễn Thị L5khai: Tại đơn khỏi kiện ông bà yêu cầu giải quyết số tiền 1.700.000.000₫ là do ông bà nhờ người làm đơn nên bị nhầm lẫn; Thực tế anh Đlnợ ông bà 1.100.000.000đ. Vì vậy ông bà xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 600.000.000đ, chỉ yêu cầu Toà án giải quyết buộc những người thừa kế của anh Đ1trả cho ông bà số tiền 1.100.000.000₫ anh Đ1còn nợ ông bà.

Cụ thể khoản nợ như sau: Do anh Đ1 là họ hàng bên phía ông L4, ông bà thấy anh chăm chỉ làm ăn, gần gũi với ông bà nên tin tưởng anh Đ1. Năm 2020, anh Đ1 hỏi vay tiền ông bà để đầu tư làm ăn. Ông bà đã cho anh Đ1 vay hai lần tiền, tổng số tiền là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng)

Lần 1: Ngày 16/01/2020 ông bà cho anh Đ1 vay số tiền 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng). Hai bên không thỏa thuận ngày trả nợ cụ thể, chỉ thỏa thuận khi nào ông bà cần lấy lại tiền thì báo trước cho anh Đ1 30 ngày.

Ngày 23/4/2022, anh Đi đến gặp ông bà, nói do dịch covid nên anh chưa hoàn thành được công trình nên chưa trả được nợ cho ông bà và anh Đicó viết cho ông bà giấy hẹn đúng 01 tháng sau sẽ trả số tiền nợ 600.000.000₫ (nêu trên).

Lần 2: Ngày 30/4/2022 anh Đ1 đến gặp ông bà và nói đã hết dịch C1nên anh Đ1đang tiếp tục hoàn thành công trình, sau khi hoàn thành và bàn giao công trình thì mới được thanh toán khi đó mới có tiền trả nợ cho ông bà, nhưng hiện tại anh thiếu tiền để hoàn thành công trinh. Anh Đlhỏi ông bà để vay thêm tiền. Do tin tưởng anh Đ1và cũng muốn giúp đỡ anh Đlhoàn thành công trình để anh Đ1trả nợ cho mình nên ông bà đã cho anh Đlvay thêm số tiền 400.000.000đ (bốn trăm triệu đồng), hai bên cũng không thỏa thuận ngày trả nợ cụ thể. Lần này anh Đ1có viết thêm trong giấy vay tiền là để lại quyền sử dụng đất cho ông bà nhưng thực tế hai bên không có giao nhận đất đai hay giấy tờ về quyền sử dụng đất nào.

Ngày 08/7/2022 anh Đ1 đến gặp ông bà và tự viết giấy hẹn chậm nhất là ngày 16/7/2022 sẽ trả cho ông bà số tiền anh Đ1 vay cả hai lần là 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng) và nói do lâu nay ông bà giúp đỡ anh, cho anh vay mà không lấy lãi nên anh biểu thêm cho ông bà 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), tổng là 1.100.000.000đ (một tỷ một trăm triệu đồng) ông bà đồng ý. Tuy nhiên đến hẹn anh Đ1 vẫn không trả nợ. Mặt khác, ông bà nghe thông tin anh Đ1 làm ăn nợ nần nhiều nên ông bà nhắc anh Đ1 trả nợ.

Vì vậy ngày 21/7/2022 anh Đ1 tiếp tục viết giấy hẹn đến ngày 26/7/2022 sẽ trả nợ cho ông bà nhưng đến hẹn anh Đ1 vẫn không trả. Do đó ông bà đã đến nhà anh Đ1 đòi nợ; Chị T2 vợ anh Đ1 có hỏi và ông bà nói cho chị T2 biết anh Đ1 nợ số tiền như trên. Sau đó chị T2 và anh Đ1 có đến nhà gặp ông bà để xin khất đến ngày 10/9/2022 sẽ trả nợ (lần này không viết giấy hẹn). Song đến ngày 10/9/2022 anh Đ1 vẫn không trả khoản nợ trên cho ông bà.

Các lần vay tiền, hẹn trả nợ (nêu trên) anh Đi đều trực tiếp gặp ông bà để hỏi vay và trực tiếp nhận tiền; Hai bên không có thỏa thuận gì về lãi; Việc vay mượn, khất nợ chỉ có ông bà và anh Đ1không có ai chứng kiến; Anh Đi đều tự tay viết giấy vay tiền, giấy hẹn trả nợ cho ông bà giữ; Nguồn gốc số tiền số tiền cho anh Đlvay là tiền ông bà dành dụm và tiền ông bà được Nhà Nước đền bù do thu hồi đất.

Ngày 20/9/2022 anh Đ1 chết mà chưa trả cho ông bà bất cứ khoản tiền nào. Di sản anh Đ1 để lại là ½ khối tài sản chung của vợ chồng anh Đ1 chị T2 gồm: Đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 571, tờ bản đồ số 4, địa chỉ thửa đất: Thôn T xã Q, TP., tỉnh Thanh Hóa; Diện tích 159,1m2; Giấy chứng nhận QSDĐ số BC 961516 do U cấp ngày 29/9/2010 mang tên ông Nguyễn Đăng Đ1 và bà Mai Thị T3. (Địa chỉ thửa đất hiện tại là số nhà A đường Đ, phố T, phường Q, TP.). Toàn bộ tài sản trên hiện tại chị Mai Thị T3 (vợ anh Đ1) và các con anh Đ1 (gồm: Chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1) đang quản lý sử dụng.

Sau khi anh Đ1 chết ông bà cũng đã đến trao đổi yêu cầu vợ và các con anh Đ1 trả cho ông bà số tiền anh Đ1 vay nhưng chị T3 không trả.

Vì vậy ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc những người thừa kế của anh Đ1 gồm chị Mai Thị T3 (vợ anh Đ1), chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1 (các con anh Đ1), ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 (bố mẹ anh Đ1) trả cho ông bà toàn bộ số tiền anh Đ1 nợ ông bà là 1.100.000.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng). Ông bà không yêu cầu trả lãi.

Về phía bị đơn Mai Thị T3 đồng thời là người giám hộ cho chị Nguyễn Mai K1 (con gái thứ 3 của anh Đ1:

Tại “Bản tự khai” và “Biên bản lấy lời khai” ngày 11/01/2023 chị Mai Thị T3trình bày, ngày 20/9/2022, anh Nguyễn Đăng Đíchồng chị chết. Sau khi anh Đ1chết thì ông L4bà L5 đến nói rằng anh Đlvay tiền của ông bà để làm ăn, hiện chưa trả và yêu cầu chị phải trả số tiền anh Đ1còn nợ; Sau dó ông bà khởi kiện yêu cầu chị trả số tiền là 1.700.000.000đ (Một tỷ bảy trăm triệu đồng). Bản thân chị và gia đình không biết việc anh Đlvay tiền của ông L4bà L5khi nào, vay bao nhiêu và vay để làm gì. Giấy vay tiền ghi tên anh Nguyễn Đăng Đ1mà ông L4bà L5nộp cho Tòa án chị xác định đúng là chữ ký, chữ viết của anh Đ1(chồng chị). Tuy nhiên chị cho rằng các giấy vay nợ mà ông L4bà L5nộp cho Tòa án không rõ ràng, không nhất quán về tổng số tiền vay là bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu. Vì ông L4bà L5nói với chị dâu, anh trai và cậu mợ anh Đllà anh Đinợ 1.000.000.000₫ nay lại khởi kiện nói anh Đinợ 1.700.000.000₫ là không nhất quán, không rõ ràng. Hơn nữa 02 giấy vay nợ anh Đlviết 1 lần là vay 600.000.000đ, một lần vay 400.000.000₫ song ngày 08/7/2022 anh Đllại viết giấy nhận nợ 1.100.000.000đ, số nợ phát sinh thêm 100.000.000₫ không rõ nội dung. Vì vậy chị đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi cho chị.

Về di sản của anh Đ1ngoài ngôi nhà là tài sản chung của vợ chồng tại địa chỉ: Số nhà A đường Đ, phố T, phường Q, TP giấy chứng nhận QSDĐ mang tên chị và anh Đlmà gia đình chị lâu nay đang ở, anh Đ1không có tài sản riêng hay tài sản chung nào khác. Anh Đi chết không để lại di chúc. Về người thừa kế của anh Đlcó bố mẹ đẻ anh Đ1(ông N1bà Đ2và 3 con gái của chị và anh Đllà Mai H1Mai C2Mai K1Ngoài ra anh Đ1không có người con nào khác.

Tuy nhiên, tại bản “Báo cáo về quan điểm đối với yêu cầu của ông L4bà L5mà chị T3nộp cho Tòa án ngày 21/4/2023 và “Biên bản lấy lời khai” của chị T3ngày 21/4/2023 chị T3cho rằng: Các giấy vay nợ khất nợ mà ông L4bà L5nộp cho Tòa án chị không chắc chắn có phải chữ ký chữ viết của anh Đ1(chồng chị) không; Bản thân chị và gia đình không biết gì về việc vay nợ này. Vì vậy chị không đồng ý trả nợ theo yêu cầu của ông L4bà L5

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Nguyễn Mai H1 (con gái đầu của anh Đ1): Tại “Bản tự khai” ngày 21/4/2023 gửi cho Tòa án, chị H1 khai: Bản thân chị không biết ông L4 bà L5, chị không nghe bố chị nói gì về việc vay tiền giữa ông Đ1 (bố chị) và ông L4 bà L5; Giấy vay nợ khất nợ mà ông L4 bà L5 nộp cho Tòa án chị thấy rằng chữ viết chữ ký tại các tài liệu này ở những thời điểm khác nhau là khác nhau nên không thể khẳng định chữ ký chữ viết trong tất cả các tài liệu trên là của bố chị. Hơn nữa các giấy vay nợ khất nợ không có thỏa thuận về việc người thừa kế của bố chị phải trả nợ cho ông L4 bà L5. Vì vậy chị không đồng ý với yêu cầu đòi nợ của ông L4 bà L5.

Chị Nguyễn Mai C2 (con gái thứ 2 của anh Đ1: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 11/01/2023, chị Nguyễn Mai C3khai việc bố chị (Ông Nguyễn Đăng Đivay tiền của ông L4bà L5khi nào, vay bao nhiêu tiền, vay để làm gì chị không được biết cho đến khi ông L4bà L5 đến đòi nợ (trước khi bố chị chết 1 ngày). Về giấy vay nợ mà ông L4bà L5nộp cho Tòa án chị xác nhận đúng là chữ ký, chữ viết của bố chị. Tuy nhiên, không rõ ràng số tiền vay là bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu. Vì ông L4bà L5nói với các bác (anh trai và chị dâu của bố chị) là bố chị nợ 1.000.000.000₫ nay lại khởi kiện đòi nợ 1.700.000.000đ. Chị đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, bảo vệ quyền lợi cho gia đình chị. Về di sản của bố chị (ông Đíchỉ có nhà đất là tài sản chung của bố mẹ chị (ông Đ1và bà T3tại địa chỉ: Số nhà A đường Đ, phố T, phường Q, TP., ngoài ra ông Đ1không có tài sản riêng hay tài sản chung nào khác. Về người thừa kế của bố chị có ông bà nội chị (ông N1bà Đ2mẹ chị (bà T3và 3 chị em chị (Mai H1MMai K1ngoài ra bố chị không có người con nào khác. Bố chị chết không để lại di chúc.

Ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 (bố mẹ đẻ của anh Đ1): Tại “Bản tự khai” và “Biên bản lấy lời khai” ngày 11/4/2023, ông Nguyễn Đăng N1 và bà Nguyễn Thị Đ2 khai: Anh Nguyễn Đăng Đ1 là con trai của ông bà, tuy nhiên ông bà không ở cùng anh Đ1 mà ở nhà riêng, kinh tế riêng. Do đó việc anh Đ1 vay mượn ông L4 bà L5 như thế nào ông bà không biết, mãi khi anh Đ1 chết ông L4 bà L5 đến đòi nợ chị T3 mới nói cho ông bà biết. Ông bà không liên quan đến khoản nợ của anh Đ1. Ông bà cho rằng ông L4 bà L5 cho anh Đ1 vay số tiền lớn như vậy mà không cho vợ con anh Đ1 biết là không đúng nên ông bà không công nhận khoản nợ. Ông bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Về người thừa kế của anh Đ1 gồm có ông bà, vợ anh Đ1 và 3 con gái anh Đ1. Theo ông bà thì anh Đ1 chết không để lại di chúc.

Quá trình giải quyết vụ án do một số người liên quan không đến làm việc theo giấy triệu tập của Toà án. Do đó, ngày 30/3/2023 Toà án đã có “Thông báo về việc giao nộp tài liệu chứng cứ” gửi cho các đương sự. Nội dung thông báo cho bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết nguyên đơn (ông Nguyễn Hữu L4 bà Nguyễn Thị L5) đã cung cấp cho Toà án tài liệu gồm: “Giấy vay tiền”; “Giấy hẹn trả nợ” ký tên Nguyễn Đăng Đ1 và khẳng định chữ viết chữ ký trong các văn bản trên là chữ viết chữ ký của ông Nguyễn Đăng Đ1. Đồng thời Toà án đã gửi kèm bản sao các tài liệu trên cho bị đơn và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Sau đó bà Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1 có văn bản gửi Toà án với nội dung: Bản thân không thể khẳng định chữ viết chữ ký Nguyễn Đăng Đ1 trong các tài liệu gồm: “Giấy vay tiền”; “Giấy hẹn trả nợ” mà ông L4 bà L5 nộp cho Toà án có phải chữ viết chữ ký của ông Nguyễn Đăng Đ1 không.

Vì vậy, Tòa án đã có văn bản thông báo cho các đương sự được biết: Trường hợp các đương sự cho rằng các tài liệu trên không phải chữ ký, chữ viết của ông Nguyễn Đăng Đ1thì có quyền yêu cầu Toà án trưng cầu giám định. Trường hợp có yêu cầu Toà án trưng cầu giám định người yêu cầu phải làm đơn yêu cầu trưng cầu giám định gửi Tòa án, nêu cụ thể yêu cầu giám định chữ ký chữ viết nào, tại văn bản nào. Đồng thời người yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng (chi phí giám định) theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên tại biên bản lấy lời khai, chị T3khai không yêu cầu giám định; Chị Mai H1không có phản hồi nào tới Toà án về việc có yêu cầu giám định không.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã có quyết định xem xét thẩm định tại chỗ và Quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản đối với tài sản chung của anh Đ1chị T3là nhà và đất ở tại địa chỉ Số nhà A đường Đ, phố T, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóavào ngày 12/4/2023. Các quyết định trên đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ cho các đương sự. Tuy nhiên ngày 12/4/2013 Hội đồng tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì chị T3và các con đều đi vắng, nhà khóa cửa. Vì vậy hội đồng tiến hành việc thẩm định, định giá bằng phương pháp quan sát từ phía ngoài. Qua thẩm định thấy rằng hình dạng thửa đất hiện tại của anh Đ1chị T3 đã thay đổi so với hình dạng của thửa đất trong Giấy chứng nhận QSDĐ.

Toà án đã mời gia đình ông Nguyễn Đình Vvà gia đình ông Đỗ Trọng H2(hai hộ giáp danh thửa đất nhà anh Đ1chị T3tham gia việc thẩm định tài sản. Ông Đỗ Trọng H2khẳng định mốc giới đất đai của gia đình ông với hộ ông Đlbà T3 đã có tường rào làm danh giới, giữ nguyên từ trước đến nay, không có tranh chấp; Ông Nguyễn Đình Vxác định: Năm 2016 gia đình ông (ông Vbà H3và gia đình anh Đ1chị T3có đổi cho nhau một phần đất giáp danh để đất của hai nhà được vuông góc. Theo đó ông Vbà H3nhận 1m chiều ngang phía trước của nhà anh Đ1chị T3và giao cho anh Đ1chị T31,5m chiều ngang phía sau của nhà ông Vbà H3Sau khi đổi đất hai gia đình đã xây tường rào và các công trình kiến trúc khác làm mốc giới và sử dụng ổn định như hiện tại. Tuy nhiên việc đổi đất hai bên không báo cáo địa phương và không đăng ký biến động tại cơ quan quản lý đất đai, vì vậy hình dạng, diện tích, kích thước thửa đất của hai nhà thực tế khác với giấy chứng nhận QSDĐ đã được cấp.

Tòa án đã đưa ông Nguyễn Đình Vbà Lê Thị H4vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tuy nhiên, Tòa án nhiều lần triệu tập ông Vbà H4vẫn không đến làm việc, không hợp tác, từ chối nhận văn bản Toà án giao. Tòa án cũng đã có văn bản thông báo cho ông Vbà H4chị T3chị H1chị C3chị K1thực hiện việc đề nghị Cơ quan quản lý đất đai công nhận việc đổi đất và chỉnh lý giấy chứng nhận QSDĐ hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết về hợp đồng đổi đất giữa hai bên để xác định diện tích đất của hộ chị T3hiện tại, làm cơ sở xác định giá trị tài sản và giá trị di sản. Song các đương sự được thông báo đều không có bất cứ phản hồi nào tới Tòa án về nội dung được thông báo. Do các bên không có yêu cầu giải quyết về việc đổi đất giữa gia đình ông Vbà H4và gia đình ông Đibà T3nên Toà án đưa ông Vbà H4ra khỏi tư cách người có QLNVLQ trong vụ án.

Ngày 05/6/2023 Tòa án tiến hành việc xem xét thẩm định tại chỗ và Hội đồng định giá tiến hành định giá tài sản lần 2. Tại buổi thẩm định, định giá lần 2, gia đình chị T3vẫn khóa cửa và vắng mặt dù đã được thông báo hợp lệ; Hội đồng định giá tài sản thống nhất định giá theo diện tích đất mà anh Đi chị T3 đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ (không định giá theo diện tích đất hiện trạng). Theo đó, Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 571, tờ bản đồ số 4, diện tích 159,1m2 (50m2 đất ở, 109,1m2 đất trồng cây lâu năm); địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Q, TP., tỉnh Thanh Hóa Giấy chứng nhận QSDĐ số BC 961516 do UBND thành phố Ucấp ngày 29/9/2010 mang tên ông Nguyễn Đăng Đ1và bà Mai Thị T3có trị giá như sau:

Theo giá Nhà nước: Đất ở: 3.000.000₫ x 50m² = 150.000.000đ; Đất trồng cây lâu năm: 109,1 m² x 1.500.000₫ = 163.650.000đ; 01 nhà 2 tầng diện tích sàn 46,08m x 2 + 70,14+75,18 = 237,48m² x 4.313.000₫ x 85% = 870.613.554₫; Mái tôn phía sau: 50 m² x 385.000₫ x 85% = 16.362.500đ; Mái tôn sân trước: 32,55 m² x 385.000₫ x 85% = 10.651.987₫; 01 cây vú sữa = 360.000đ. Tổng trị giá đất và tài sản gắn liền với đất là: 1.211.638.041₫.

Theo giá thị trường: Đất ở: 10.000.000₫ x 50m² = 500.000.000đ; Đất trồng cây lâu năm: 109,1 m² x 1.500.000₫ = 163.650.000đ; 01 nhà 2 tầng diện tích sàn 46,08m x 2 + 70,14 + 75,18 = 237,48 m² x 4.313.000₫ x 85% = 870.613.554₫; Mái tôn phía sau: 50m² x 385.000₫ x 85% = 16.362.500₫; Mái tôn sân trước: 32,55m² x 385.000₫ x 85% = 10.651.987đ; 01 cây vú sữa = 360.000đ. Tổng trị giá đất và tài sản gắn liền với đất là: 1.561.638.041₫.

Tuy nhiên, ngày 26/7/2023 Chi nhánh Văn phòng Đ3có công văn số 380/CV-CNVPĐK và ngày 01/8/2023 UBND thành phố Ucó công văn số 4771/UBND-TNMT về cung cấp thông tin địa chính xác định: Việc đổi đất giữa gia đình bà Mai Thị T3và gia đình ông Nguyễn Đình Vkhông khai báo, không đăng ký với cơ quan Nhà nước; Sau khi đổi đất các hộ chưa đăng ký cấp giấy chứng nhận theo hiện trạng đang sử dụng. Vì vậy không được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ... theo thực tế đang sử dụng. Đối với giấy chứng nhận QSDĐ số BC 961516 do UBND thành phố Ucấp ngày 29/9/2010 mang tên ông Nguyễn Đăng Đ1và bà Mai Thị T3 đã được UBND thành phố Ucấp sang giấy chứng nhận mới là số CY 589064 ngày 02/11/2020, thửa đất 421, tờ bản đồ 33, diện tích 159,1m² (trong đó 130m² đất ở; 29,1m² đất trồng cây lâu năm), địa chỉ thửa đất: phố T, phường Q, TP., tỉnh Thanh Hóa

Do diện tích đất ở thay đổi nên tổng trị giá tài sản (đất và tài sản gắn liền với đất) của anh Đ1 chị T3 thay đổi như sau:

Theo giá Nhà nước: Đất ở: 3.000.000₫ x 130m² = 390.000.000đ; Đất trồng cây lâu năm: 29,1 m² x 1.500.000₫ = 43.650.000đ. Tổng trị giá đất và tài sản gắn liền với đất là: 433.650.000₫ + 897.988.041₫ = 1.331.638.041₫

Theo giá thị trường: Đất ở: 10.000.000₫ x 130m² = 1.300.000.000đ; Đất trồng cây lâu năm: 29,1m² x 1.500.000₫ = 43.650.000đ. Tổng trị giá đất và tài sản gắn liền với đất là: 1. 343.650.000₫ + 897.988.041₫ = 2.241.638.041₫.

Do chị T3, chị H1, chị C3, chị K1, ông N1, bà Đ2 vắng mặt tại buổi định giá nên Tòa án đã thông báo cho họ về kết quả định giá.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 13/01/2024 Tòa án cũng đã có văn bản thông báo cho các đương sự (chị T3chị H1chị C3chị Klông N1bà Đ2thực hiện quyền yêu cầu thanh toán khi phân chia di sản thừa kế anh Đi để lại (như: Chi phí hợp lý cho việc mai táng anh Đ1 Tiền cấp dưỡng còn thiếu; Các khoản nợ đối với cá nhân, pháp nhân ...) theo quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự. Song tất cả các đương sự (nêu trên) không có phản hồi nào tới Tòa án về nội dung này.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 09/6/2023 và ngày 29/3/2024, mặc dù đã được thông báo hợp lệ song chị T3chị H1chị C3chị Klông N1bà Đ2 đều vắng mặt. Vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được. Về phía nguyên đơn, ông L4bà L5giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải trả cho ông L4bà L5số tiền 1.100.000.000₫.

Tòa án cũng đã thông báo cho các đương sự vắng mặt về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiêp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

Ngày 19/3/2024 Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử. Quyết định đã được tống đạt, niêm yết hợp lệ cho tất cả các đương sự. Tại phiên tòa ngày 17/4/2024 chị Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1, ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 vắng mặt, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó HĐXX hoãn phiên tòa đồng thời ấn định thời gian mở lại phiên tòa vào 14 giờ 00 phút ngày 15/5/2024. Quyết định hoãn phiên tòa và thông báo thay thế thành viên người tiến hành tố tụng đã được tống đạt và niêm yết hợp lệ cho tất cả các đương sự.

Tại phiên tòa hôm nay, chị Mai Thị T3chị Nguyễn Mai H1chị Nguyễn Mai C2chị Nguyễn Mai Klông Nguyễn Đăng N1bà Nguyễn Thị Đ2vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Nguyên đơn, Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn thống nhất rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 600.000.000đ; Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu buộc chị Mai Thị T3chị Nguyễn Mai H1chị Nguyễn Mai C2chị Nguyễn Mai Không Nguyễn Đăng N1bà Nguyễn Thị Đ2là những người thừa kế hàng thứ nhất của anh Đ1và đang quản lý di sản của anh Đ1có trách nhiệm liên đới trả cho ông L4bà L5số tiền anh Đ1còn nợ là 1.100.000.000đ, không yêu cầu tính lãi từ khi vay đến ngày xét xử sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của ông Nguyễn Hữu L4bà Nguyễn Thị L5 kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Chị Mai Thị T3chị Nguyễn Mai H1chị Nguyễn Mai C2chị Nguyễn Mai Không Nguyễn Đăng N1bà Nguyễn Thị Đ2 không chấp hành đúng quy định. Tại phiên tòa chị T3chị H1chị C2chị Không N1bà Đ2vắng mặt lần thứ hai, đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ.

Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của ông L4bà L5; Xác định di sản anh Đi để lại là ½ trị giá QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 421, tờ bản đồ số 33, địa chỉ thửa đất: Phố T, phường Q, TP., tỉnh Thanh HóaDiện tích 159,1m2 (trong đó 130m2 đất ở và 29,1.2 đất trồng cây lâu năm); Giấy chứng nhận QSDĐ số CY 589064 do Ucấp ngày 02/11/2020 mang tên ông Nguyễn Đăng Đ1và bà Mai Thị T3(Địa chỉ hiện tại là số nhà A đường Đ, phố T, phường Q, TP. có tổng trị giá 2.241.638.041đ; Chấp nhận việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu số tiền 600.000.000₫ và đình chỉ đối với phần yêu cầu đã rút; Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc chị Mai Thị T3chị Nguyễn Mai H1chị Nguyễn Mai C2chị Nguyễn Mai K1 (người giám hộ là chị Mai Thị T3ông Nguyễn Đăng N1bà Nguyễn Thị Đ2là những người thừa kế hàng thứ nhất của anh Đi và đang quản lý di sản của anh Đ1có trách nhiệm liên đới trả cho ông L4bà L5số tiền anh Đ1còn nợ là 1.100.000.000đ; Về lãi đương sự không yêu nên không xét; Án phí: Chị Mai Thị T3chị Nguyễn Mai H1chị Nguyễn Mai C2, chịu án phí theo quy định của pháp luật và liên đới trong việc nộp án phí; Miễn án phí cho ông Nguyễn Đăng N1bà Nguyễn Thị Đ2và chị Nguyễn Mai K1 vì thuộc trường hợp trẻ em và người cao tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng,

Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền:

Ông Nguyễn Hữu L4và bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6khởi kiện yêu cầu những người thừa kế của anh Nguyễn Đăng Đ1trả cho ông bà số tiền anh Đ1còn nợ theo các hợp đồng vay tiền giữa anh Nguyễn Đăng Đ1với ông L4bà L6; Bị đơn và những người có quyền lợi liên quan đều cư trú tại Thành phố Tnên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt đương sự:

Quá trình giải quyết vụ án chị Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1, ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 đã được Toà án tống đạt, niêm yết hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Tuy nhiên các đương sự đã không tuân thủ quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay chị Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1 (người giám hộ là chị Mai Thị T3), ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt họ.

[2] Về thời hiệu khởi kiện:

Việc khởi kiện đảm bảo thời hiệu quy định tại Điều 429 - Bộ luật dân sự

[3] Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn

Tại đơn khởi kiện ông Nguyễn Hữu L4 bà Nguyễn Thị L5 yêu cầu những người thừa kế của anh Nguyễn Đăng Đ1 gồm chị Mai Thị T3 (vợ anh Đ1), chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1 (các con anh Đ1), ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 (bố mẹ đẻ anh Đ1) trả cho ông bà toàn bộ số tiền anh Đ1 nợ của ông bà là 1.700.000.000đ (Một tỷ một trăm triệu đồng). Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 600.000.000₫ và yêu cầu những người thừa kế của anh Đ1 trả số tiền 1.100.000.000₫.

HĐXX xét:

[3.1] Về số tiền nợ:

Ông L4 bà L5 đã cung cấp cho Toà án các tài liệu gốc làm chứng cứ của việc vay nợ gồm: Tài liệu 1: Giấy vay tiền ngày 16/01/2020 thể hiện ông bà cho anh Đ1 vay số tiền 600.000.000đ; Tài liệu 2: Giấy vay tiền ngày 23/4/2022 thể hiện anh Đ1 vay số tiền 600.000.000đ và ngày 30/4/2022 anh Đ1 vay 400.000.000đ; Tài liệu 3: Giấy hẹn trả nợ ngày 08/7/2022 thể hiện việc anh Đ1 hẹn ngày 16/7/2022 sẽ trả cho ông bà số tiền 1.100.000.000đ và ngày 21/7/2022 hẹn ngày 26/7/2022 sẽ trả nợ.

Ông bà trình bày các giấy tờ này đếu là chữ ký chữ viết của anh Đido anh Đ1tự tay viết và đưa cho ông bà giữ. Thực tế, ngày 16/01/2020 ông bà đã giao tiền cho anh Đlvay 600.000.000đ; Ngày 23/4/2022 do vay đã lâu mà anh Đ1không trả được nợ nên anh viết lại giấy vay số tiền 600.000.000đ cho ông bà chứ không phải vay thêm 600.000.000đ; Ngày 30/4/2022 ông bà cho anh Đlvay thêm 400.000.000₫ nên anh Đ1ghi là “Vay lần 2 của hai bác”; Ngày 08/7/2022 do anh Đ1không trả được nợ nên viết giấy khất nợ, hẹn ngày 16/7/2022 sẽ trả nợ cho ông bà. Giấy này anh Đlviết gộp tổng số tiền của hai lần vay là 1.000.000.000₫ và anh Đlnói vì ông bà giúp đỡ anh lại không tính lãi từ khi vay đến nay nên anh biếu ông bà 100.000.000đ. Vì vậy anh ghi tổng số nợ là 1.100.000.000đ; Đến hẹn ngày 16/7/2022 anh Đ1không trả được nợ nên ngày 21/7/2022 anh Đltiếp tục viết giấy khất nợ đến ngày 26/7/2022.

Lời khai ban đầu chị T3(vợ anh Đ1chị Mai C2(con gái thứ 2 của anh Đi đều thừa nhận: Chữ ký, chữ viết trong các tài liệu (giấy vay nợ, khất nợ) ông L4bà L5nộp cho Toà án (nêu trên) đúng là chữ ký chữ viết của anh Đ1Sau này chị T3thay đổi ý kiến; Chị T3và chị Mai H1(con gái đầu của anh Đ1khai: Họ không khẳng định được chữ ký chữ viết “trong tất cả các tài liệu nêu trên” có phải của anh Đ1không.

Tuy nhiên, Toà án đã thông báo cho chị T3, chị H1, chị C2, chị K1, ông N1, bà Đ2 về quyền giám định chữ ký chữ viết đối với các tài liệu trên song chị T3 không yêu cầu giám định, những người còn lại không ai có ý kiến gì. Và cũng không ai cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh chữ ký chữ viết trong các tài liệu trên không phải của anh Đ1.

Như vậy có đủ cơ sở để khẳng định: Các giấy vay nợ, khất nợ ông L4bà L5nộp cho Toà án là do anh Đllập; Số tiền anh Điđã vay ông L4bà L5là 1.000.000.000đ; Số tiền 100.000.000₫ anh Đ1biếu ông L4bà L5là tự nguyện; Số tiền 600.000.000đ trong giấy vay ngày 23/4/2022 là anh Đ1viết lại khoản vay lần 1, không phải khoản vay mới; Hình thức và nội dung Hợp đồng vay tài sản giữa anh Đ1với ông L4bà L5không trái quy định của pháp luật nên có hiệu lực. Vì vậy bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ (theo quy định tại Điều 463, 466 Bộ luật dân sự). Do đó, việc ông L4bà L5 đòi nợ số tiền 1.100.000.000₫ anh Đi còn nợ là có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận. Đối với tiền lãi từ khi cho vay đến ngày xét xử sơ thẩm ông L4bà L5không yêu cầu nên HĐXX không xét.

[3.2] Đối với việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện:

Số tiền 600.000.000đ trong giấy vay anh Đlviết ngày 23/4/2022 là anh Đ1viết lại khoản vay lần 1, không phải khoản vay mới. Việc ông L4bà L5rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 600.000.000đ là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ; Đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị đơn và những người liên quan nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 71; khoản 2 Điều 244 - Bộ luật dân sự chấp nhận việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện và đình chỉ đối với phần yêu cầu đã rút.

[3.3] Về di sản và nghĩa vụ trả nợ:

Ngày 20/9/2022 anh Đ1chết. Tại các bản khai của chị T3Giấy chứng nhận QSDD và văn bản cung cấp thông tin địa chính của UBND thành phố Uđủ cơ sở xác định anh Đ1và chị T3có khối tài sản chung là: Đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 421, tờ bản đồ số 33, địa chỉ thửa đất: Phố T, phường Q, TP., tỉnh Thanh HóaDiện tích 159,1 m² (trong đó 130m² đất ở và 29,1m² đất trồng cây lâu năm); Giấy chứng nhận QSDĐ số CY 589064 do Ucấp ngày 02/11/2020 mang tên ông Nguyễn Đăng Đlvà bà Mai Thị T3 (Địa chỉ nhà đất hiện tại là số nhà A đường Đ, phố T, phường Q, TP.). Hội đồng định giá đã kết luận khối tài sản chung của anh Đ1chị T3(nêu trên) có tổng trị giá 2.241.638.041₫

Như vậy, di sản anh Đi để lại là ½ khối tài sản chung nêu trên, có trị giá là 2.241.638.041₫: 2 = 1.120.819.000đ (theo quy định tại Điều 612 - Bộ luật dân sự).

Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã yêu cầu những người thừa kế của anh Đ1thực hiện quyền yêu cầu thanh toán các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế quy định tại Điều 658 Bộ luật dân sự như: Chi phí mai táng, T4cấp dưỡng còn thiếu, tiền nợ song các đương sự không có yêu cầu do đó HĐXX không có căn cứ để xem xét giải quyết.

Lời khai của ông N1bà Đ2chị T3Chị Mai C2 thống nhất xác định: Ông N1bà Đ2là bố mẹ đẻ anh Đ1Chị T3là vợ anh Đ1Chị Mai H1MMai C2là con anh Đ1ngoài ra anh Đ1không có người con nào khác. Toà án cũng đã yêu cầu các đương sự cung cấp di chúc của anh Đ1(nếu có) tuy nhiên các đương sự không ai cung cấp di chúc của anh Đ1 Như vậy ông N1bà Đ2chị T3chị Mai H1Mai C2, Mai Kllà những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Đi được hưởng kỳ phần thừa kế ngang nhau đối với di sản anh Điđể lại là 1.120.819.000₫ : 6 người = 186.803.167đ. Đồng thời họ là người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông L4bà L5trong phạm vi số tiền 186.803.167₫ mà họ được hưởng thừa kế của anh Đ1 (theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651; Khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự).

Do chị T3, chị Mai H1, chị Mai C2, chị Mai K1 (người giám hộ là chị T3), ông N1, bà Đ2 cùng là người thừa kế của anh Đ1, cùng có nghĩa vụ trả khoản tiền anh Đ1 còn nợ cho ông L4 bà L5. Do vậy ông L4 bà L5 yêu cầu những người này phải liên đới trong việc trả nợ là phù hợp.

Xét yêu cầu của ông L4bà L5buộc những người thừa kế của anh Đlliên đới trả cho ông L4bà L5số tiền anh Đ1còn nợ là 1.100.000.000₫ là có căn cứ, phù hợp quy định tại Điều 288; Điều 612; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651; Khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự nên HĐXX chấp nhận.

[4] Đối với ý kiến chị T3và chị Mai H1 yêu cầu Toà án xem xét nội dung anh Đlviết ngày 30/4/2022 là “đồng ý để lại quyền sử dụng đất cho ông L4bà L5hẹn thu xếp tiền để hoàn lại và nhận lại quyền sử dụng đất trong tuần tới”.

Chị Mai Hlyêu cầu làm rõ đây là quyền sử dụng đất nào, nếu là QSDĐ của ngôi nhà của bố mẹ chị ở Qthì chứng tỏ bố chị (anh Đi đã trả hết nợ cho ông L4bà L5 để nhận lại Giấy chứng nhận QSDĐ vì hiện tại bản gốc giấy chứng nhận QSDĐ này gia đình chị đang quản lý.

Ông L4 bà L5 khai, nội dung này anh Đ1 viết thêm để ông bà tin tưởng khi vay thêm số tiền 400.000.000₫ ngày 30/4/2022, thực tế ông bà không nhận đất đai hay giấy tờ đất nào của anh Đ1.

HĐXX xét:

Ông L4bà L5không thừa nhận có giữ QSDĐ của anh Đ1Nội dung anh Đlviết không rõ ràng cụ thể về QSDĐ đối với thửa đất nào, địa chỉ ở đâu, số giấy chứng nhận QSDĐ bao nhiêu. Do đó không có căn cứ để làm rõ theo yêu cầu của chị H1Mặt khác ngày 30/4/2022 anh Đlviết giấy hẹn “tuần tới” sẽ trả nợ để “lấy lại QSDĐ” song đến ngày 08/7/2022 anh Đlvẫn viết giấy khất nợ ông L4bà L5số tiền 1.100.000.000đ; Bản thân chị T3chị Mai H1cũng không xuất trình được tài liệu chứng cứ nào chứng minh anh Đi đã trả nợ cho ông L4bà L5. Vì vậy việc chị H1cho rằng anh Đi đã trả hết nợ để lấy lại giấy chứng nhận QSDĐ là không có căn cứ để chấp nhận.

[5] Về án phí:

Do yêu cầu đòi nợ của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận vì vậy chị T3chị H1chị C2phải chịu án phí dân sự có giá ngạch; Miễn án phí cho chị Klông N1bà Đ2vì thuộc trường hợp “trẻ em”, “người cao tuổi” và trong bản khai có yêu cầu miễn án phí theo quy định tại Điều 12; Điều 14; Điều 24; Điều 26 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

Khoản 2 Điều 71; khoản 2 Điều 244; Điều 288; 357; 463; 466; Điều 612; Điều 614; Khoản 1 Điều 615; khoản 1 Điều 650; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 651- Bộ luật dân sự

Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; Điều 24; khoản 2 Điều 26 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

Đình chỉ xét xử phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu L4 và bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6) đối với số tiền 600.000.000₫ mà ông L4 và bà L6 đã rút yêu cầu.

Chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu L4 và bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6) đối với số tiền 1.100.000.000₫ (một tỷ một trăm triệu đồng).

Buộc những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Nguyễn Đăng Đ1 gồm: Chị Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1 (người giám hộ là chị Mai Thị T3), ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Nguyễn Hữu L4 và bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6) số tiền 1.100.000.000đ (một tỷ một trăm triệu đồng). Trong đó chị Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1 (người giám hộ là chị Mai Thị T3), ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 mỗi người có nghĩa vụ trả số tiền 183.333.000₫.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật, bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

Về án phí: Chị Mai Thị T3 chị Nguyễn Mai H1 chị Nguyễn Mai C2mỗi người phải chịu 9.166.650đ án phí dân sự có giá nghạch và chịu nghĩa vụ liên đới trong việc nộp án phí. Miễn án phí cho chị Nguyễn Mai K1 ông Nguyễn Đăng N1bà Nguyễn Thị Đ2 Ông Nguyễn Hữu L4 bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6 không phải chịu án phí.

Về quyền kháng cáo: Ông Nguyễn Hữu L4, bà Nguyễn Thị L5 (tên gọi khác là Đỗ Thị L6) được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Chị Mai Thị T3, chị Nguyễn Mai H1, chị Nguyễn Mai C2, chị Nguyễn Mai K1 (người giám hộ là chị Mai Thị T3), ông Nguyễn Đăng N1, bà Nguyễn Thị Đ2 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DSST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 21/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu L - Mai Thị T (Tranh chấp HĐ vay TS)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger