Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Nhật Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Ông Nguyễn Ngọc Chẩn
  • 2/ Ông Lê Văn Long

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên toà: Ông Trương Đức Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân (TAND) thị xã S, tỉnh Phú Yên và điểm cầu thành phần Trụ sở Nhà tạm giữ thị xã S, tỉnh Phú Yên. TAND thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 25/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn K, (tên gọi khác: “Không có”), sinh năm 1993. Nơi sinh và cư trú:

Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Số CCCD: [...] cấp ngày 01/6/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Con ông Lê Văn C, sinh năm 1970 và bà Bùi Thị Q, sinh năm 1971; Vợ: Phạm Thị Mộng O, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Con: 01 người, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S. Bị cáo bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Lê Thanh S, sinh năm 1999. Trú tại: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 15/01/2024, Lê Văn K sử dụng tài khoản Facebook tên “Nhất Kiệt” liên hệ với một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) ở thành phố Q, tỉnh Bình Định mua ma túy sử dụng. Sau đó, K đón xe khách đến thành phố Q gặp người thanh niên này mua ma túy với số tiền 2.400.000 đồng rồi đem về thị xã S để sử dụng. Khoảng 19 giờ cùng ngày, K nhờ Lê Thanh S (là em họ K) chở đến quán “P" thuộc thôn H, xã X, thị xã S để ăn nhậu. Khi K vừa đến quán “Phúc T” thì bị Tổ tuần tra Đồn Biên phòng X phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần jean phía trước bên phải của K đang cất giấu một túi nilon màu trắng hình chữ nhật được hàn kín ba đầu, một đầu có khóa kéo, kích thước 06x04cm; bên trong chứa 01 viên nén màu xám, hình tròn, đường kính 01cm; 1/2 viên nén màu xám, đường kính 01cm và 01 viên chất rắn màu trắng.

Tại Bản Kết luận giám định số 16/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P kết luận:

  • 01 viên nén màu xám (ký hiệu A1) trong bì nilon vuốt kín là ma túy, có khối lượng 0,439g, loại MDMA.
  • 01 viên nén màu xám (ký hiệu A2) trong bì nilon vuốt kín là ma túy, có khối lượng 0,271g, loại MDMA.
  • Viên chất rắn màu trắng (ký hiệu A3) trong bì nilon vuốt kín là ma túy, có khối lượng 0,613g, loại Ketamine. (BL 08)

Vật chứng vụ án:

  • + 01 bì niêm phong, mặt trước có ghi: “Hoàn trả lại đồng biên phòng X, Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên A1, A2 = 0,517 (g) loại MDMA; A3 = 0,510 (g) loại Ketamine theo kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 16/01/2024" CQĐT đang tạm giữ.
  • + 01 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số seri FD1CG0B1JCLY, số máy MQ962LL/A CQĐT đang tạm giữ.
  • + 01 bật lửa màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt CQĐT đang tạm giữ.
  • + 01 bao thuốc nhãn hiệu Jet, nêm trong có 5 điếu thuốc CQĐT đang tạm giữ.
  • + Số tiền 500.000 đồng CQĐT đang tạm giữ.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT -VKSSC ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn K thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu đã truy tố. Bị cáo khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là hoàn toàn đúng tội, không oan gì cho bị cáo.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo Lê Văn K có hành vi mua ma tuý có khối lượng 0,71 gam ma túy loại MDMA và 0,613 gam ma túy loại Ketamine về để sử dụng nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Do đó Cáo trạng số 25/CT-VKSSC ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, nên giữ nguyên quyết định truy tố theo bản Cáo trạng số 25/CT-VKSSC ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS, đề nghị Hội đồng xét xử phạt: Bị cáo Lê Văn K từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2024.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án:

  • + Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong, mặt trước có ghi: “Hoàn trả lại đồng biên phòng X, Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên A1, A2 = 0,517 (g) loại MDMA; A3 = 0,510 (g) loại Ketamine theo kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 16/01/2024”. Tịch thu tiêu huỷ 01 bật lửa màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt và 01 bao thuốc nhãn hiệu Jet, bên trong có 5 điếu thuốc vì hết giá trị sử dụng.
  • + Đề nghị HĐXX tịch thu nộp ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số seri FD1CG0B1JCLY, số máy MQ962LL/A bị cáo đã dùng vào việc liên lạc giao dịch mua ma túy.
  • + Số tiền 500.000 đồng không liên quan đến vụ án nên đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho Lê Văn K (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không có cơ sở để xác minh xử lý. Nên đề nghị HĐXX không xét

Đối với Lê Thanh S không biết Lê Văn K cất giấu ma túy để sử dụng nên không xem xét xử lý. Nên đề nghị HĐXX không xét

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên thị xã S đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại cơ quan điều tra phù hợp nhau; phù hợp với vật chứng thu giữ được; phù hợp với Bản Kết luận giám định số 16/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh P, đủ căn cứ xác định: Chính Lê Văn K có có hành vi cất giấu bất hợp pháp khối lượng 0,71 gam ma túy loại MDMA và 0,613 gam ma túy loại Ketamine, nhằm mục đích sử dụng. Trong đó, ma tuý loại MDMA. MDMA khối lượng 0,71 gam là chất ma túy nằm trong danh mục IB, số thứ tự 27, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Ma túy loại Ketamine có khối lượng 0,613 gam, Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Mục đích của bị cáo mua ma túy và cất giấu là để sử dụng cá nhân nên hành vi của bị cáo Lê Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[3] Do đó Cáo trạng số 25/CT-VKSSC ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai gì cho bị cáo.

[4] Xét về tính chất, hậu quả, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lê Văn K là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội ở địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình, biết rõ ma tuý loại MDMA và ma túy Ketamine là chất tuyệt đối cấm sử dụng, nếu sử dụng sẽ vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật mua ma túy và cất giấu ma tuý nhằm mục đích để sử dụng. Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này cho bị cáo khi lượng hình để xem xét giảm nhẹ phần nào về hình phạt cho bị cáo. Nhưng với tính chất, mức độ và trọng lượng ma túy mà bị cáo đã tàng trữ cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với người thanh niên bán ma túy cho Lê Văn K do không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S không thể tiến hành xác minh, xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Đối với Lê Thanh S không biết Lê Văn K cất giấu ma túy để sử dụng nên không xem xét xử lý có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xét.

[8] Về vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong, mặt trước có ghi: “Hoàn trả lại đồng biên phòng X, Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên A1, A2 = 0,517 (g) loại MDMA; A3 = 0,510 (g) loại Ketamine theo kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 16/01/2024”. Tịch thu tiêu huỷ 01 bật lửa màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt và 01 bao thuốc nhãn hiệu Jet, bên trong có 5 điếu thuốc vì hết giá trị sử dụng.
  • - Riêng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số seri FD1CG0B1JCLY, số máy MQ962LL/A, bị cáo đã dùng vào việc liên lạc giao dịch mua ma túy là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền 500.000 đồng không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo

[09] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng:

  • + Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
  • + Điều 47 BLHS năm 2015; Điều 106 BLTTHS năm 2015.
  • + Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 15/01/2024.

3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo

4.Về vật chứng vụ án:

  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong, mặt trước có ghi: “Hoàn trả lại đồng biên phòng X, Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên A1, A2 = 0,517 (g) loại MDMA; A3 = 0,510 (g) loại Ketamine theo kết luận giám định số 16/KL-KTHS, ngày 16/01/2024”.
  • - Tịch thu tiêu huỷ 01 bật lửa màu trắng, nhãn hiệu Hoa Việt và 01 bao thuốc nhãn hiệu Jet, bên trong có 5 điếu thuốc
  • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu đen, số seri FD1CG0B1JCLY, số máy MQ962LL/A.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên)
  • - Trả lại cho bị cáo số tiền 500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000102 ngày 26/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên ;
  • - Công an Tx. Sông Cầu;
  • - VKSND Tx. Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS Tx. Sông Cầu;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ Toạ phiên toà

Lò Nhật Chuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU – TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger