Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 16 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Chi

Ông Đặng Anh Đoan

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Văn Nhân, sinh ngày 02 tháng 7 năm 1980. Nơi sinh: huyện P, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: mua bán; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo Hòa Hảo; con ông Văn Trần Phước T, sinh năm 1954 và bà Lê Thị Xuân H, sinh năm 1956; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ - Công an huyện P (có mặt).

- Các bị hại:

  1. Ông Phạm Thanh H1, sinh năm 1966. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)
  2. Ông Nguyễn Thanh L, sinh năm 1984. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)
  3. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)
  4. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Thúy P, sinh năm 1970. Nơi cư trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang. (có mặt)

- Những người làm chứng:

Ông Nguyễn Ngọc T2, Anh Bùi Ngọc S, Ông Lê Văn T3 và Ông Nguyễn Văn S1 (có mặt).

Ông Ngô Minh H2, Anh Phan Chí T4, A Lê Minh T5, Ông Nguyễn Văn T6, Anh Lê Văn P1, Ông Trần Phước D và Ông Võ Minh P2 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 07/11/2023, sau khi uống rượu xong Văn Nhân trên đường đi về nhà thì thấy ông Ngô Minh H2 đang ngồi dự tiệc với nhiều người khác tại Shop quần áo mới khai trương của bà Đào Thị Thúy P thuộc ấp H, xã H. Do Văn N nhớ lại chuyện cãi vả trước đây với ông H2 vào ngày 04/11/2023 nên đem theo 01 cây dao cán nhựa màu đen dài khoảng 25cm để phía sau lưng quần rồi đến nơi ông H2 dự tiệc, đến nơi giữa Văn N và ông H2 xảy ra cãi vả nhau được mọi người khuyên can nên Văn N bỏ về. Sau đó, Văn N nảy sinh ý định đến tiệm tạp hóa của ông Lê Văn T3 thuộc ấp H, xã H mua 01 lít xăng đựng trong ca nhựa màu xanh rồi đi đến nơi ông H2 đang ngồi trong bàn dự tiệc cùng nhiều người khác (trên bàn có bếp gas đang mở lửa nấu lẩu), Văn N cầm ca nhựa chứa xăng trên tay phải tạt mạnh vào bàn hướng về phía ông H2 đang ngồi làm lửa bốc cháy làm ông Phạm Thanh H1 và ông Nguyễn Thanh L bị bỏng với thương tích nặng được người dân đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh tại thành phố C; sau đó được chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố H điều trị tiếp. Riêng ông Lê Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ và ông Nguyễn Văn S1 bị bỏng nhẹ tự điều trị tại nhà.

Tang vật thu giữ gồm: 01 quần jean màu xanh; 01 áo vải dài tay, sọc carô đen đỏ trắng; 01 áo thun tay ngắn màu trắng; 01 quần dài loại kaki màu xám; 01 áo thun ngắn tay, màu trắng xanh đã bị cháy xém; 01 ca nhựa màu xanh; 03 mặt bàn bằng vải màu xanh, kích thước bằng nhau (1,35 x 1,35) mét có dấu bị cháy nham nhở; 02 bếp gas mini bằng kim loại màu trắng bên trong có chai gas, hiện trạng còn gas. Ngoài ra không còn vật chứng thu giữ nào khác.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản dựng lại hiện trường phù hợp với nội dung đã nêu trên.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 760, 761, 762/23/KLTTCT-TTPY ngày 08/11/2023, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại thời điểm giám định của Phạm Thanh H1 là 15%; của Nguyễn Thanh L là 15%; của Lê Văn T1 là 06%.

Bản Kết luận giám định số 7103/KL-KTHS ngày 24/11/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Mẫu M2 và mẫu

M3 được niêm phong gửi giám định đều có tìm thấy thành phần X; Các mẫu còn lại gồm: M1, M4 và M5 (M5.1, M5.2) đều không tìm thấy thành phần X, D1 và các dung môi dễ cháy thường gặp.

Ngày 22/12/2023, Trung tâm Pháp y tỉnh A có Kết luận số 760bs, 761bs, 762bs, 864, 865, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Phạm Thanh H1 là 18%; Nguyễn Thanh L là 21%; Lê Văn T1 là 07%; Nguyễn Văn S1 là 00%, Nguyễn Văn Đ là 01%, thương tích do bỏng nhiệt gây nên.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thanh L yêu cầu bồi thường số tiền 85.455.608 đồng; bị hại Lê Văn T1 yêu cầu bồi thường số tiền 28.026.000 đồng và bị hại Phạm Thanh H1 yêu cầu bồi thường số tiền 27.466.323 đồng.

Quá trình điều tra, bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng khai phù hợp với nội dung vụ án nêu trên.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKS-HS, ngày 02/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố Văn Nhân tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Văn N vẫn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Đối với phần trách nhiệm dân sự đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại.

Tại phiên tòa sơ thẩm các bị hại khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật và cũng xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Văn N. Còn về phần trách nhiệm dân sự, ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các đương sự và bị cáo: bị hại Nguyễn Thanh L tự nguyện yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, còn số tiền còn lại không yêu cầu; bị hại Lê Văn T1 và bị hại Phạm Thanh H1 tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, ngoài ra không yêu cầu thêm gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bà Đào Thị Thúy P không yêu cầu bị cáo bồi thường gì và yêu cầu nhận lại tài sản đang bị thu giữ: 02 bếp gas mini bằng kim loại màu trắng bên trong có chai gas, hiện trạng còn gas.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Văn Nhân từ 06 năm đến 07 năm tù. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 584, 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Văn N bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh L số tiền 20.000.000 đồng; riêng bị hại Lê Văn T1 và bị hại Phạm Thanh H1 tự nguyện không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng theo quy định tại Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: bị hại ông Nguyễn Văn Đ và những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai cụ thể, rõ ràng trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng này không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292; Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiếp tục tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung vụ án:

Qua tiến hành tranh tụng công khai tại phiên tòa và lời thừa nhận của bị cáo Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra cũng như toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên, phù hợp các tang vật thu được tại biên bản thực nghiệm hiện trường và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 07/11/2023, sau khi uống rượu xong Văn Nhân trên đường đi về nhà thì thấy ông Ngô Minh H2 đang ngồi dự tiệc với nhiều người khác tại Shop quần áo mới khai trương của bà Đào Thị Thúy P thuộc ấp H, xã H. Do nhớ lại chuyện mâu thuẫn trước đây với ông H2, Văn N nảy sinh ý định gây thương tích nên đến tiệm tạp hóa của ông Lê Văn T3 thuộc ấp H, xã H mua 01 lít xăng đựng trong ca nhựa màu xanh rồi đi đến nơi ông H2 đang ngồi trong bàn dự tiệc cùng nhiều người khác (trên bàn có bếp gas đang mở lửa nấu lẩu), N cầm ca nhựa chứa xăng trên tay phải tạt mạnh vào bàn hướng về phía ông H2 đang ngồi làm lửa bốc cháy gây thương tích gây thương tích cho ông Phạm Thanh H1, ông Nguyễn Thanh L, ông Lê Văn T1, ông Nguyễn Văn Đ. Căn cứ Kết luận số 760bs, 761bs, 762bs, 864, 865, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với ông Phạm Thanh H1 là 18%; ông Nguyễn Thanh L là 21%; ông Lê Văn T1 là 07%; Nguyễn Văn Đ là 01% và ông Nguyễn Văn S1

là 00% thương tích. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân truy tố đối với bị cáo Văn N có hành vi phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội.

Xét tính chất, mức độ do bị cáo gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của nhiều bị hại, đồng thời còn gây mất trật tự xã hội tại địa phương. Trong vụ án này bị cáo Văn N vì mâu thuẫn cá nhân của mình với ông H2 nên có hành vì dùng xăng (là hoá chất nguy hiểm) tạt vào nơi ông H2 đang ngồi với nhiều người khác đang sử dụng bếp gas nấu đồ ăn, gây hậu quả thương tích cho nhiều người, đây là hành vi thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo biết rõ hậu quả của hành vi là vi phạm pháp luật nhưng bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức vẫn cố ý thực hiện, coi thường sức khoẻ người khác một cách trái pháp luật, với lỗi cố ý trực tiếp và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo Văn N một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, vào ngày 04/11/2011 bị Tòa án nhân dân Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm 06 tháng tù, về tội “Cướp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 04/01/2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại, ông nội là liệt sĩ và các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về các biện pháp tư pháp:

[5.1] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa các bị hại Nguyễn Thanh L tự nguyện chỉ yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, số tiền còn lại không yêu cầu; bị hại Lê Văn T1, Phạm Thanh H1 và Nguyễn Văn Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, ngoài ra không yêu cầu gì khác, bị cáo cũng đồng ý tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của ông L nên HĐXX ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự với bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đào Thị Thúy P có thiệt hại về tài sản nhưng không yêu cầu bị cáo Văn N phải bồi thường nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[5.2] Về xử lý vật chứng:

01 quần jean màu xanh; 01 áo vải dài tay, sọc carô đen đỏ trắng; 01 áo thun tay ngắn màu trắng; 01 quần dài loại kaki màu xám; 01 áo thun ngắn tay, màu trắng xanh đã bị cháy xém; 01 ca nhựa màu xanh; 03 mặt bàn bằng vải màu xanh, kích thước bằng nhau (1,35 x 1,35) mét có dấu bị cháy nham nhở. Các vật chứng nêu trên đã thu giữ của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng hiện không còn giá trị sử dụng, đồng thời không ai có yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Đối với các vật chứng còn lại 02 (hai) bếp gas mini bằng kim loại màu trắng bên trong có chai gas bà P có yêu cầu nhận lại nên HĐXX trả lại cho bà P theo đúng quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6] Về án phí: Bị cáo Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Văn N 06 (sáu) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08/11/2023).

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584, 585 và Điều 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, bị cáo Văn N bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho ông Nguyễn Thanh L số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền nêu trên người phải thi hành án không thanh toán được, thì các bên có quyền thỏa thuận lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự. Nếu các bên không thỏa thuận được thì người phải thi hành án phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào Điều 46 và Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần jean màu xanh; 01 (một) áo vải dài tay, sọc carô đen đỏ trắng; 01 (một) áo thun tay ngắn màu trắng; 01 (một) quần dài loại kaki màu xám; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu trắng xanh đã bị cháy xém; 01 (một) ca nhựa màu xanh và 03 (ba) mặt bàn bằng vải màu xanh, kích thước bằng nhau (1,35 x 1,35) mét có dấu bị cháy nham nhở.

Trả lại cho bà Đào Thị Thúy P 02 (hai) bếp gas mini bằng kim loại, màu trắng bên trong có chai gas.

(Các vật chứng nêu trên do Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Phú Tân

đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản đề ngày 04/4/2024)

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Văn N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000 đồng (một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (1b);
  • - Bị hại (4b);
  • - Cơ sở giam giữ (2b);
  • - Người liên quan (1b);
  • - TAND tỉnh An Giang (1b);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1b);
  • - VKSND huyện Phú Tân (1b);
  • - Bộ phận THAHS Tòa án( 1b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang (1b);
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân(1b);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh An Giang (1b);
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Tân(1b);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thành Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Văn N xử phạt 06 (sáu) năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger