Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH LƯU

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/4/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nghệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Hương Thảo và bà Đỗ Thị Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Anh- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 324/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Hồ Duy H, sinh năm 1995. Có mặt

Nơi cư trú: Xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

- Bị đơn: Chị Võ Thị Minh T, sinh năm 1999. Vắng mặt

Nơi cư trú: Xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/8/2023, bản tự khai ngày 25/10/2023 và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Hồ Duy H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Võ Thị Minh T có đăng ký kết hôn vào ngày 12/7/2017 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ ngày 20/6/2021 cho đến nay. Chị T vẫn ở nhà bố mẹ anh tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, anh thường xuyên đi làm, không ở nhà. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không thể kéo dài, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Võ Thị Minh T.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hồ Thị Khánh H1, sinh ngày 20/7/2017 và Hồ Thị Khánh N, sinh ngày 20/10/2020. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cháu H1, giao cháu N cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh không cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng khác cho chị T nhưng chị T đều vắng mặt không rõ lý do, không gửi ý kiến trình bày cho Tòa án về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12 tháng 3 năm 2024 bà Lê Thị L trình bày: Bà là bà nội của anh Hồ Duy H. Chị T, hai con chung của chị T và anh H đang ở chung với bà, bố mẹ anh H tại thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chị Võ Thị Minh T hiện nay đang làm công nhân tại xã Q, sáng đi tối về. Chị T đã nhận được các văn bản của Toà án gửi nhưng chị Thu n giấy nhưng xé giấy. Gia đình đã bàn bạc để hoà giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng không ai thay đổi. Bà không biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh H, không biết ý kiến của chị T về việc ly hôn.

Kết quả xác minh tại UBND xã Q cho biết: Anh Hồ Duy H, sinh năm 1995 và chị Võ Thị Minh T, sinh năm 1999 có nơi thường trú tại thôn G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Chị T thường xuyên có mặt tại địa phương, hiện đang làm công nhân tại xã Q, sáng đi tối về. Hiện chị T đang ở với gia đình anh H tại thôn G, xã Q. Chị T và anh H có đăng ký kết hôn với nhau tại UBND xã Q vào ngày 12/7/2017. Việc kết hôn đảm bảo các quy định của pháp luật. Anh H và chị T có 02 con chung là Hồ Thị Khánh H1, sinh ngày 20/7/2017 và Hồ Thị Khánh N, sinh ngày 20/10/2020. Anh H và chị T có mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ vì không ai yêu cầu hòa giải tại cơ sở. Anh H đề nghị giải quyết ly hôn, quyền nuôi về con chung, địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử và thư ký phiên toà đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 71,72 BLTTDS năm 2015.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hồ Duy H được ly hôn chị Võ Thị Minh T.

Về con: Giao con chung Hồ Thị Khánh H1, sinh ngày 20/7/2017 cho anh Hồ Duy H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Hồ Thị Khánh N, sinh ngày 20/10/2020 cho chị Võ Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị T và anh H vì không ai yêu cầu.

Anh H, chị T có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về tố tụng:

[1.1] Anh Hồ Duy H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với chị Võ Thị Minh T, có nguyện vọng nuôi con chung, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Chị Võ Thị Minh T có nơi thường trú tại xóm G, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.

[1.2] Về việc xét xử vắng mặt: Bị đơn chị Võ Thị Minh T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Hồ Duy H và chị Võ Thị Minh T là hợp pháp, tuân thủ các điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống giữa anh H, chị T có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng chung sống không hòa hợp. Anh H và chị T đã sống ly thân từ ngày 20/6/2021 cho đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, chị T không gửi đơn trình bày ý kiến về việc yêu cầu ly hôn của anh H, không có tác động để vợ chồng đoàn tụ, anh H kiên quyết xin ly hôn, chứng tỏ đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho anh Hồ Duy H được ly hôn với chị Võ Thị Minh T.

[2.2] Nguyện vọng được nuôi con của anh H là chính đáng, thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ đối với con chung. Từ khi vợ chồng sống ly thân cả hai con chung ở với chị T tại nhà anh H tại xóm G, xã Q. Việc giao hai con chung cho một người nuôi dưỡng sẽ tạo khó khăn về kinh tế, không đảm bảo được các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng cho con chung phát triển toàn diện. Căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận nguyện vọng về con của anh H. Giao con chung

Hồ Thị Khánh H1, sinh ngày 20/7/2017 cho anh Hồ Duy H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Hồ Thị Khánh N, sinh ngày 20/10/2020 cho chị Võ Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng

Anh H, chị T không ai yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên miễn xét.

[2.3] Về tài sản: Không ai yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét

[3] Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hồ Duy H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Hồ Duy H được ly hôn chị Võ Thị Minh T.
  2. Về con chung: Giao con chung Hồ Thị Khánh H1, sinh ngày 20/7/2017 cho anh Hồ Duy H trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Hồ Thị Khánh N, sinh ngày 20/10/2020 cho chị Võ Thị Minh T trực tiếp nuôi dưỡng.

    Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H và chị T vì không ai yêu cầu.

    Anh H, chị T có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản: Anh H, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Hồ Duy H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu theo biên lai số 0000494 ngày 25/10/2023.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn anh Hồ Duy H có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn chị Võ Thị Minh T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Quỳnh Lưu;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Quỳnh Lưu;
  • - UBND xã Quỳnh Lương (ĐKKH 2017);
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nghệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ANh Hồ Duy H xin ly hôn chị Võ Thị Minh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger