Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 16 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bờ - Ông Nguyễn Hoàng Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Bùi Quốc T, sinh năm 1993; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị P, sinh năm 1966; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: 01 lần. Ngày 18/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đến ngày 16/7/2021 chấp hành xong hình phạt, nhưng chưa chấp hành xong việc nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.800.000 đồng thu lợi bất chính. Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

  • Ngày 13/12/2014, bị Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 20/3/2014, bị Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định hủy quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
  • Ngày 18/4/2016, bị Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Sau đó, bàn giao cho Công an thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh quản lý.
  • Ngày 19/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 05/8/2018.
  • Ngày 21/02/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 21 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt, tạm giam kể từ ngày 11/01/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  • Bị hại: Huỳnh Hữu N, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt)
  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
    1. Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
    2. Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)
    3. Nguyễn Đức T2. Nơi cư trú: Số A, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện ma túy và không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Ngọc T1 rủ Bùi Quốc T đi tìm tài sản của người khác lấy trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì T đồng ý. Khoảng 22 giờ ngày 10/4/2022, T1 điều khiển xe gắn máy biển số 67FK-7891 chở Trạng đến khu S thị trấn C để tìm tài sản lấy trộm, thì phát hiện nhà của Huỳnh Hữu N thuộc khóm V, thị trấn C, huyện C đang xây dựng, quan sát thấy không người trông coi, T1 dừng xe lại đi vào bên trong nhà lấy trộm 01 cây kìm cộng lực mang ra ngoài đưa cho T giữ, rồi điều khiển xe chở T đi tìm chỗ tiêu thụ, khi đến khu vực ấp M, xã M, huyện C thì bị lực lượng tuần tra Công an xã M nghi vấn mời về trụ sở làm việc. Qua làm việc T1 và T thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản. Ngày 05/4/2023, T bị khởi tố, điều tra. Đến ngày 11/01/2024, T bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại Kết luận định giá số 13/KL-HĐĐGTS ngày 23/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận: 01 (Một) cây kìm cộng lực cắt sắt bằng kim loại dài khoảng 01m, đã qua sử dụng, trị giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (Một) cây kìm cộng lực (đã trả lại cho bị hại Huỳnh Hữu N theo biên bản ngày 03/4/2023) và 01 (Một) xe gắn máy biển số 67FK-7891.

Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:

  • - Bị cáo Bùi Quốc T khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận hành vi phạm tội.
  • - Bị hại ông Huỳnh Hữu N trình bày phù hợp với nội dung vụ án, hiện ông N đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu xử lý gì cả, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Ngọc H trình bày phù hợp nội dung vụ án. Đối với xe gắn máy biển số 67FK-7891 H mua của một người đàn ông (không rõ họ tên), không có làm giấy tờ mua bán, chưa sang tên giấy chứng nhận đăng ký xe, H đã bán lại xe này cho T1 nên H không có yêu cầu gì cả. T1 thừa nhận điều khiển xe gắn máy biển số 67FK-7891 chở T đi trộm cắp tài sản.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 20 tháng 3 năm 2024: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Bùi Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Bùi Quốc T khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố. Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, bị cáo nhận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

  • - Về trách nhiệm hình sự:
    • + Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Quốc T từ 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
    • + Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Quốc T.
  • - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng là 01 (Một) xe gắn máy hiệu MAX màu vàng, mang biển số 67FK-7891, đã qua sử dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, nên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Quốc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với các lời khai của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C; Kết luận định giá tài sản số 13/KL.HĐĐGTS ngày 23/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C và các vật chứng thu giữ được trong vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 10/4/2022 bị cáo Bùi Quốc T cùng với Nguyễn Ngọc T1 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Huỳnh Hữu Nghĩa 101 (Một) cây kìm cộng lực cắt sắt bằng kim loại dài khoảng 01m, đã qua sử dụng, trị giá 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).

[2.2] Xét thấy, bị cáo Bùi Quốc T là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo Bùi Quốc T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án có hiệu lực pháp luật số 208/2019/HS-ST ngày 18/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do đó, hành vi của bị cáo Bùi Quốc T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2.3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo nhận thấy: Bị cáo Bùi Quốc T là người có sức khỏe để lao động nhưng bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tham gia tệ nạn xã hội và bị nghiện ma túy nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo đã lợi dụng thời điểm đêm tối, vắng người đi lại và sự mất cảnh giác của bị hại để dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo cùng với T1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, trong đó T1 là người trực tiếp lấy trộm tài sản và ra ngoài đưa cho bị cáo giữ; bị cáo là người bên ngoài canh coi, sẵn sàng điều khiển xe chở T1 tẩu thoát nếu bị phát hiện. Bị cáo đã từng chấp hành án phạt tù về tội trộm cắp tài sản nhưng khi chấp hành xong bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội; từ đó cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đi khỏi địa phương, gây khó khăn cho công tác điều tra, xử lý cho đến khi bị cáo bị bắt theo lệnh truy nã. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trạng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trạng quy định tại điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[2.6] Đối với Nguyễn Ngọc T1 mặc dù có 01 tiền án về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chưa được xóa án tích, nhưng ở lần thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” này cùng với Bùi Quốc T, giá trị tài sản chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự (tài sản trị giá 250.000 đồng) và không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T1 là có căn cứ.

[3] Về biện pháp tư pháp:

[3.1] Đối với vật chứng là 01 (Một) cây kìm cộng lực thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại Huỳnh Hữu N, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C giao trả lại cho ông Nghĩa là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ông N không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.2] Đối với vật chứng là 01 (Một) xe gắn máy hiệu MAX màu vàng, biển số 67FK-7891 thuộc sở hữu của Nguyễn Ngọc T1. Mặc dù T1 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng T1 có lỗi trong việc cùng với bị cáo T3 sử dụng xe này làm phương tiện để trộm cắp tài sản. Do đó, cần tịch thu xe gắn máy biển số 67FK-7891 để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng này thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

[4] Về án phí: Bị cáo Trạng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

  • - Tuyên bố: Bị cáo Bùi Quốc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • - Xử phạt bị cáo Bùi Quốc T: 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 11 (Mười một) tháng 01 (Một) năm 2024 (Hai không hai bốn).
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Quốc T.

Căn cứ vào Điều 46, điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước vật chứng bao gồm: 01 (Một) xe gắn máy hiệu MAX màu vàng, biển số 67FK-7891, số khung 1000557, số máy 000557, đã qua sử dụng.
  • - Tất cả vật chứng, tài sản nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • - Về án phí: Bị cáo Bùi Quốc T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Bùi Quốc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, NLQ (5);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND huyện Châu Phú (1);
  • - Nhà tạm giữ-CA H.Châu Phú (1);
  • - CQCSĐT - CA.H.Châu Phú (1);
  • - Chi cục THADS H.Châu Phú (1);
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG (1);
  • - Sở Tư Pháp tỉnh AG (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1);
  • - Lưu VT (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Linh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Bờ Tuấn

Nguyễn Hoàng

Nguyễn Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger