Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-PT

Ngày 15/8/2024.

V/v tranh chấp chia tài sản

sau khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Bản

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế và ông Hoàng Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa:

Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp tài sản ly hôn.

Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 67/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 03/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phan Văn Đ năm 1968;
  2. Trú tại: Xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L năm 1969;
  4. Trú tại: Xóm 9, xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;

    Nơi ở: Tổ 7, phường Tân Thịnh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

    Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà L

    Ông Lê Quang N- Luật sư ,Văn phòng L37(có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Ngọc T năm 1974;
    2. Trú tại: Xóm H, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    3. Ông Trần Đình H năm 1977;
    4. Trú tại: Xóm A, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    5. Anh Phan Anh V năm 1991;
    6. Trú tại: Xóm I, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

    7. Anh Phan Hoàng A năm 1994;
    8. Trú tại: Xóm I, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

      (Đều vắng mặt)

  6. Người làm chứng: Ông Nguyễn Thế D năm 1960;
  7. Trú tại: Xóm I, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn ông Phan Văn Đ1 trình bày: Ông kết hôn với bà L2 1990, đăng ký kết hôn tại UBND xã V, tỉnh Thái nguyênviệc kết hôn hoàn toàn tự nguyện. Quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Phan Anh V ngày 1991; Phan Hoàng A ngày 1994 hiện đang ở với ông.

Tài sản chung hai vợ chồng có nhà và đất vườn và đất ruộng mua năm 1995 của bà Nguyễn Thị L3 8.000.000đ (tám triệu đồng), năm 2003 ông mua thêm mảnh ruộng 1.200m² của vợ chồng ông Trần Văn S và bà Nguyễn Thị T1. Do toàn bộ đất đai đều là đất dưới có lòng hồ Núi Cốc nên không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2004 do nhà bị mối xông nên vợ chồng ông xây dựng lại toàn bộ nhà và công trình phụ.

Trên đất của hai vợ chồng có xây nhà 02 tầng xây dựng năm 2017 nguồn tiền xây nhà là tiền đền bù đất và tài sản trên đất do nhà nước trả, một phần là của hai con và bản thân đi làm tiết kiệm được và tiền bà ngoại cho hai cháu. Tổng xây nhà hết khoảng 800.000.000 đ (tám trăm triệu đồng).

Tài sản trong nhà do hai vợ chồng mua gồm có 01 xe máy mang tên anh, 01 giường, 01 tủ lạnh, 01 ti vi, 01 tủ thờ 01 bộ bàn ghế sa lông, 03 quạt.

Khoảng năm 2016 nhà nước thu hồi của anh gần 1000m² để làm đường, diện tích đất này nằm trước cửa nhà anh là đất ruộng. Trên đất anh trồng keo, bãi sắn và chuối và khi nghe có việc thu hồi đất thì khoảng năm 2014 anh đã xây dựng trên đất 01 khu vực chuồng gà rộng khoảng 150m2,02 bể nước, 01 chuồng trâu, hàng rào và một số cây ăn quả nhỏ như chanh, cam, bưởi để lấy tiền đền bù và xây bờ rào bao quanh.Sau này nhà nước lấy đất đã đền bù toàn bộ các công trình anh xây dựng và cây trồng thêm như kể trên, hiện nay anh chưa nhận hết tiền đền bù do không có mặt vợ ở nhà, số tiền cụ thể anh đề nghị Toà án sang Trung tâm quỹ đất huyện Đ giúp. Số tiền đền bù đã nhận anh đã chi vào làm nhà và nuôi bà mẹ vợ đi bệnh viện.

Về nợ chung: Nợ ông Trần Đình H1 ở xóm A, xã V tiền 60.000.000đ, lãi 1%/ tháng. Đây là tiền anh vay để trả vào tiền đổ đất các ruộng xung quanh nhà vì nó quá trũng khi nhà nước làm đường và xây cồng nước hồ tràn vào xung quanh nhà mang theo xác các con vật chết nhân dân vứt xuống hồ rất mất vệ sinh. Tổng tiền đổ đất hết 82.000.000đ, anh mới trả được 22.000.000đ. Hiện nay số ruộng anh đổ đật nhà nước đã thu hồi hết.

Nợ anh Nguyễn Ngọc T2 xóm H, xã V250.000.000₫ đây là tiền anh vay để đền bù cho 03 người bị cháu V1 tai nạn và các chi phí đi lại liên quan. Do anh mới bỏ tiền vào làm nhà hết nên đã phải đi vay toàn bộ các khoản tiền trên của anh Nguyễn Ngọc T3 đó anh có bảo cháu V2 mẹ vì lúc đó mẹ bà L chết nên chị đã về thì anh thấy cháu V3 lại là mẹ bảo mẹ không có để bố lo.Chúng tôi không cho ai vay.

Nguyên nhân xin ly hôn: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến khoảng năm 2010 thì bà L xin đi làm ở Hà Nội, tôi đồng ý. Thời gian đầu đi hai ba tháng bà L về một lần sau không thấy về nữa và chưa bao giờ đưa tiền cho tôi nuôi con. Năm 2012 thì người nhà bà L ở Vĩnh Phúc lên ăn giỗ có sang nhà tôi nói chuyện là bà L đưa một người đàn ông tên là P nhà họ chơi và giới thiệu là chồng nhưng họ có đi đám cưới và biết chồng cô Llà Đ2 không phải người này và họ báo cho tôi biết để tôi khỏi phải đi tìm bà L. Trước tết âm năm 2013 có người ở Hà Nội lên gặp hàng xóm và tìm hiểu về nhà tôi nhưng không gặp được tôi vì tôi đi làm thợ xây không có nhà, hàng xóm cho số điện thoại của tôi, mùng hai tết âm lịch gia đình ở Hà Nội gọi điện thoại trực tiếp cho tôi thông báo là bà L cặp bồ với chồng của họ là ông P1 ông P2 bảo vệ của toà nhà, bà L4 tạp vụ của toà nhà hai người cặp bồ với nhau và đã bỏ nhà đi, khi đi có mang theo bìa đỏ đất của nhà họ và họ yêu cầu tôi phải xuống nhà họ ngay để giải quyết. Lúc đó con lớn của tôi là cháu V4 làm ở Hà Nội và làm việc ở gần đó tôi sợ liên quan đến tài sản của nhà họ, tôi không xuống họ tìm đánh cháu V5 tôi bảo cháu V6 tôi xuống gặp họ. Khi gặp họ tôi nói rõ là vợ tôi đã nhiều năm không về nhà và tôi không biết bà L đi đâu thì họ cho bố con tôi về những năm sau này họ vẫn gọi cho tôi để tìm bà L. Đến năm 2018 thì họ thông báo cho tôi biết là họ đã tìm thấy ông P3 bà L đang sống với nhau và họ đã thu được bìa đỏ đất về tay họ rồi từ đó họ không liên lạc với tôi nữa. Cuối năm 2018 tôi đón chị Đỗ Thị O sống chung để chăm sóc tôi và mẹ vợ tôi vì tôi và hai con trai không tiện chăm sóc bà, khi chị O ở chúng tôi không có tài sản gì chung.

Về quan hệ giữa bố con tôi với mẹ vợ tôi là Đỗ Thị T2sinh năm 1933 thì như sau: Sau khi bà L là con duy nhất đi làm không về nhà từ năm 2011, lúc đó bà đã 78 tuổi bà không có lương chỉ có ruộng nên tôi và vẫn có trách nhiệm trông nom và sắm sửa đồ dùng cần thiết cho bà, các cháu đi làm có lương nên vẫn thường xuyên cho bà tiền để bà chi tiêu. Năm 2016 bà được tiền đền bù đất thì các cháu mới không phải cho bà tiền, bà được khoảng 1 tỉ đồng nhưng trả cho tôi số tiền tôi xây dựng các công trình trên đất của bà để lấy thêm tiền đền bù là hơn 100.000.000đ, nhà nước giữ lại hơn 100.000.000đ để nộp tiền tái định cư và bà cho con cháu bên bà bao nhiêu tôi không biết còn bà cho hai con tôi là ba trăm triệu đồng để bố con tôi xây nhà hiện nay đang ở. Sau khi xây nhà xong bố con tôi đón bà về ở tại ngôi nhà mới xây, bà ở đó đến lúc chết và bố con tôi là người lo ma chay. Sau khi bà về ở với tôi thì khoảng đầu năm 2018 bà T2phát hiện ra bị bệnh ung thư máu, phải thay máu liên tục, tôi và hai cháu vợ mới là chị O1 đưa bà đi các viện Bạch Mai, bệnh viện H2để cứu chữa. Mùng ba tết năm 2020 bà tôi nguy kịch đã chết lâm sàng, ngày 10 tết bà tỉnh lại thì ngày 13 tết bà L5 thì đến ngày 23 tháng giêng là bà mất hai con tôi đứng ra lo tang ma, thấy hai cháu báo lại với tôi là mẹ không có tiền mang về lo ma cho bà.

Sau đó bà L6 làm đơn tố cáo tôi ra công an huyện Đvề việc tôi vi phạm chế độ một vợ một chồng, hiện cơ quan công an đã có kết luận xử phạt vi phạm hành chính đối với tôi. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Toà án cho ly hôn, khi ly hôn tôi yêu cầu Toà án chia tài sản chung và nợ chung theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà L7: tôi và anh Phan Văn Đ3 hôn năm 1990, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vtrên cơ sở tự nguyện và có hai con chung là Phan Anh V năm 1991, Phan Hoàng A năm 1994.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, năm 2008 lòng hồ ngập nên tôi đi làm thuê ở Hà Nội, năm 2014 tôi vào thành phố Hồ Chí Minh sinh sống đến nay, từ khi vào miền nam tôi không về bắc lần nào, đến khi mẹ tôi sắp mất tôi mới về, chăm sóc mẹ tôi được 02 tháng thì mẹ tôi mất. Năm 2018 anh Đ4 sống như vợ chồng với người phụ nữ khác. Nay anh Đ5 ly hôn tôi hoàn toàn nhất trí.

Về con chung đã trưởng thành.

Tài sản chung: Năm 1995 vợ chồng tôi mua của bà Nguyễn Thị L8 thổ đất gồm 400m² đất ở và nhà trên nhà bếp và công trình phụ và 1.344m² đất ruộng, năm 2004 vợ chồng tôi làm lại toàn bộ nhà cửa. Do là đất dưới cốt lòng hồ nên đến nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Năm 2002 hai vợ chồng mua của anh S1 T11200m² đất ruộng, 96.000.000₫ tiền tôi bán trâu và tiền tiết kiệm của tôi đưa cho anh Đ, 09 chỉ vàng hiện anh Đ6 cầm, 01 nhà và công trình phụ xây dựng năm 2004, 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 20 F1 045.79 mang tên anh Đ, 01 tủ lạnh, 01 ti vi, 02 tủ gỗ, 01 tủ thờ, 01 tủ tường, 01 bộ bàn ghế sa lông, 02 giường, 02 cân đồng hồ, 01 chiếc cân 100kg, 01 chiếc 150kg, 01 bếp ga, 03 quạt cũ, 01 đường điện gốc chung làm năm 1992, số tiền 287.178.654 đ tiền đền bù ruộng vào năm 2016 đang do anh Đ7 lý.Tôi yêu cầu chia số tài sản trên theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa ngày 25/10/2022 bà L9 đổi lời khai cho rằng ngôi nhà xây năm 2017 là nhà của bà T4(mẹ bà L10 xây trên đất của bà T5 vậy tài sản đó là tài sản thừa kế của bà L11 yêu cầu không chia trong vụ án này.

Phía ông Đ8 thừa nhận việc được cầm 96.000.000đ tiền bà L12 trâu và tiền tiết kiệm và 09 chỉ vàng của bà LVề số tiền bồi thường đất ruộng vào năm 2016 thì bên quỹ đất cho ông Đ nhận một nửa và đã chi tiêu vào việc làm nhà, còn lại một nửa tiền đất và tài sản chung trên đất hiện nay bên Ban quản lý quỹ đất huyện Đđang giữ nên ông Đ không rõ như nào.

Do bà L9 đổi lời khai về nguồn gốc căn nhà xây năm 2017 và đất để xây dựng ngôi nhà nên ngày 02/12/2022 ông Đ9 đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện như sau:Trên đất của hai vợ chồng có xây nhà 02 tầng xây dựng năm 2017 nguồn tiền xây nhà là tiền đền bù đất và tài sản trên đất do nhà nước trả, một phần là của cháu A1 cháu V7 tôi đi làm tiết kiệm được và tiền bà ngoại cho hai cháu. Tổng xây nhà hết khoảng 800.000.000 đ (tám trăm triệu đồng).

Do bà L13 đi không rõ đi đâu nên năm 2016 khi Công ty Xlấy hết đất và nhà của bà T2bà T2không còn chỗ ở nên đã bà đã cho cháu A300.000.000đ để cháu A2 nhà cho bà ở chung và lo cho bà khi bà về già. Tôi đồng ý với hai bà con và lấy tiền đền bù đất ra cho cháu A1 cháu tiết kiệm được hơn 100.000.000đ để xây nhà trên đất của hai vợ chồng, sau khi xây xong cháu A3 với bà T4 và cháu V8 ngôi nhà cũ. Sau này khi bà T2mất hai con trai tôi đứng ra lo liệu toàn bộ.Khi tôi làm đơn xin ly hôn đến Tòa án, bà L14 đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng, trong quá trình giải quyết vụ án tôi và bà L15 thống nhất ngôi nhà 2 tầng bố con tôi làm trên đất của hai vợ chồng từ nguồn tiền là tiền đền bù đất và tài sản trên đất do nhà nước trả, một phần là của hai con tôi và tôi đi làm tiết kiệm được và tiền bà ngoại (bà T2cho hai cháu hai vợ chồng sẽ cho con trai là Phan Hoàng A4 Thẩm phán đã không giải quyết nội dung này. Đến phiên tòa ngày 25/10/2022 thì bà L16 định ngôi nhà hai tầng xây năm 2017 bằng tiền đền bù đất của bà T2và được xây dựng trên đất của bà T2nên nhà và đất là di sản thừa kế của mẹ bà L17 lại cho bà L4 con duy nhất nên không phải là tài sản chung của vợ chồng.Do vậy tôi làm đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án xác định diện tích đất trên có nhà hai tầng là tài sản chung của vợ chồng và đề nghị Tòa án giải quyết phân chia theo quy định của pháp luật; Yêu cầu xác định nhà hai tầng xây trên đất là tài sản chung của tôi và con trai tôi là Phan Hoàng A5 cháu Phan Anh V9 phải là tài sản chung của vợ chồng hay là di sản thừa kế của bà mẹ vợ tôi là Đỗ Thị T2để lại cho bà L

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Hoàng A6:Bố tôi là Phan Văn Đ10 mẹ tôi là Nguyễn Thị L18 mẹ tôi có hai người con là Phan Anh V năm 1991 và tôi. Năm 2022 tôi đã kết hôn với vợ là Nguyễn Thị D1sinh năm 1999 và ở cùng với bố tôi và anh trai tôi tại xóm B, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái NguyênKhi tôi lấy vợ bố tôi đứng ra tổ chức toàn bộ cho tôi còn mẹ tôi không về. Tôi đã biết bố mẹ tôi làm thủ tục ly hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đại Từ và cũng biết về phần tài sản ban đầu bố mẹ tôi cho tôi đất và nhà mới mà bố tôi và tôi xây dựng năm 2016. Sau này không hiểu sao mẹ tôi lại thay đổi ý kiến là nhà và đất đó là của bà ngoại tội và người thừa kế là mẹ tôi. Tôi xin khai lại toàn bộ sự việc như sau: Trước năm 2010 bố mẹ tôi làm nông nghiệp tại địa phương, năm 2010 mẹ tôi đi làm Công ty vệ sinh môi trường tại Bệnh viện Blúc đầu mấy tháng về nhà một lần, tết năm 2011 không về nhà, sau đến cuối năm 2012 là không về nhà nữa cũng thay sim điện thoại tôi liên lạc với mẹ không được, lúc đó tôi đang học lớp 12, còn anh V10 học xong đi làm thuê trên Cao Bằng 1 năm sau bố tôi gọi về cho đi học lái xe. Khoảng năm 2013 có một chị gọi lên nhà tôi yêu cầu bố tôi xuống Hà Nội để giải quyết việc mẹ tôi và bố chị đó quan hệ bất chính với nhau, bố tôi cùng anh tôi có đi Hà Nội để gặp những người kia nhưng nhà tôi không biết mẹ tôi ở đâu nên sau họ cũng không có ý kiến gì.

Đất nhà tôi và đất nhà bà ngoại tôi ở cạnh nhau, bà tôi tên là Đỗ Thị T6 snăm 1932, ông ngoại tôi đi lấy vợ khác từ khi mẹ tôi còn nhỏ nên bà ở một mình có bố mẹ tôi trông nom, từ khi mẹ tôi bỏ đi thì bố tôi và anh em tôi qua lại chăm sóc bà. Khi mẹ tôi đi rồi bố tôi có thuê người đổ khoảng 70 xe ô tô đất trước nhà vì nhà tôi gần hồ cứ mưa là nước dâng lên cuốn rác vào nhà tôi rất bẩn. Khoảng năm 2014 - 2015 khi nghe tin nhà nước lấy đất để làm đường ven hồ Núi Cốc ba bố con tôi đã xây trên đất của bà tôi hàng rào, cổng, hệ thống chuồng trại chăn nuôi và trồng cây để đón đền bù; bên nhà tôi ba bố con cũng xây và trồng cây tương tự như vậy. Khoảng cuối năm 2015 thì nhà tôi và nhà bà ngoại tôi bắt đầu nhận tiền đền bù. Phần bố con tôi xây dựng trên đất của bà khi được đền bù, bà trả hết cho bố con tôi. Bên nhà bà nhà nước lấy hết đất nên được nhà nước cho tái định cư, đất tái định cư anh tôi có ra UBND xã đăng ký nhưng xã nói đất tái định cư của bà mẹ tôi phải đồng ý thì anh tôi mới lấy được nhưng mẹ tôi không đồng ý nên anh tôi không lấy nữa. Do mẹ tôi đi không có liên lạc gì về nhà nên khi bà ngoại bị thu hồi hết đất và nhà, bà bảo với tôi là mẹ con không biết đi đâu, bà không ở với con rể, bà không hợp tính anh V, bà hợp với tôi, bà sẽ cho tôi 300.000.000đ để xây nhà và bà sẽ ở với tôi và tôi có trách nhiệm với bà. Tôi về nói với bố và bố tôi đồng ý cho tôi xây nhà trên đất của nhà tôi. Tôi đi làm tích cóp được hơn một trăm triệu và bố tôi cho thêm 250.000.000đ để xây nhà hết hơn 700.000.000đ. Tôi có trích từ phần tiền bà cho ra mua chiếc xe máy SH làm phương tiện đi lại. Năm 2017 nhà xây xong tôi và bà ở đó bố và anh V8 nhà cũ (hai nhà cạnh nhau). Bà ngoại tôi sức khỏe yếu từ năm 2015 thường xuyên phải đi viện đầu năm 2018 thì bệnh viện kết luận bà bị bệnh ung thư máu, phải thay máu liên tục, ba bố con tôi thay nhau đưa bà đi bệnh viện ở Hà Nội để chữa chủ yếu là bố tôi vì hai anh em tôi đều đi làm công nhân không nghỉ được nhiều. Cuối năm 2019 bà ốm quá nặng, bà mẹ dì tôi là Đỗ Thị O2 phải đi viện chăm sóc cùng. Mùng ba tết năm 2020 bà tôi nguy kịch đã chết lâm sàng, ngày mùng 10 tết bà tỉnh lại thì ngày 13 tết mẹ tôi về thì đến ngày 23 tháng giêng là bà tôi mất. Khi bà mất hai anh em tôi đứng ra lo tang ma cho bà, mẹ tôi không có đóng góp gì. Sau khi bà tôi mất tôi vẫn ở ngôi nhà mới và năm 2022 tôi lấy vợ hiện vẫn ở đó. Sau khi bà mất giỗ bà do bố con tôi làm và mời khách, mẹ tôi chỉ mua đồ sẵn về thắp hương không tham gia làm giỗ.

Nay mẹ tôi nói nhà đất là của bà ngoại để lại là không đúng, đất là của bố mẹ tôi còn nhà là của bố tôi và tôi. Tôi đề nghị Tòa án giải quyết rõ ràng ra như vậy theo pháp luật. Còn về tình cảm, mẹ tôi muốn về ở với vợ chồng tôi hay qua lại tôi không cản trở gì. Hiện nay tôi biết bố tôi vẫn nợ tiền đổ đất và tiền lo cho anh tôi khi anh ấy gây tai nạn chết người khi lái xe. Mong Tòa xét xử công minh để bố tôi đỡ thiệt thòi.

Anh Phan Anh V12: mẹ tôi đã làm ở Hà Nội từ năm 2010 có liên lạc và về với gia đình. Đến năm 2012 thì lý do đi làm ăn xa sang nước ngoài và đã đi và không liên lạc được với mẹ tôi nữa.Đến 2013 do mưa lũ nước lũ dâng cao bố tôi có san lấp lại miếng đất phía sau ra để tôn cao nền với số tiền 82.000.000 (tám mươi hai triệu đồng chẵn). Tới năm 2015 bố tôi có vay của chú H 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu) để trang trải công nợ.Đến năm 2016 thì dự án đền bù có đi qua khu vực gia đình tôi sinh sống của nhà bà ngoại tôi và một ít của gia đình tôi và bố tôi có đi vay mượn thêm để xây thêm các công trình phụ vào nhà bà ngoại tôi và nhà tôi để đón đền bù. Đến năm 2017 thì bà ngoại tôi có làm nhà trên miếng đất là tài sản chung của bố mẹ tôi và bố tôi có cho thêm tiền được đền bù của bố tôi cho con trai là Phan Hoàng A7 làm thêm để hoàn thiện ngôi nhà đang ở bây giờ.Đến năm 2020 tôi đang làm lái xe tại KCN Y Phổ Yên T không may bị tai nạn tại KCN ĐY Bắc NinhTrong quá trình tai nạn thì mẹ tôi có về ngày 17/01/2020 và đã nói chuyện với cả hai bố mẹ để giải quyết sự việc tai nạn và mẹ tôi không đủ khả năng, tôi đã nhờ bố tôi lo tổng số tiền vừa hỗ trợ mai táng phí vừa tiền giúp đỡ cho tổng là 250.000.000 đ đến nay tôi không đủ khả năng chi trả vậy nhờ cơ quan pháp luật đưa số tiền này ra pháp luật giúp tôi.

Ông Trần Đình H1 trình bày: Tôi và gia đình anh Đ9 quan hệ hàng xóm, năm 2012 nhà nước làm đường bao hồ N, nhà anh Đ11 hơn đường nhiều nên mỗi khi trời mưa nước hồ tràn vào lòng nhà ngập khoảng 40cm, xác súc vật trôi vào rất bẩn nên anh Đ12 người đổ đất. Sau này thấy anh Đ13 nhờ vay tiền để trả cho chủ san đất anh Đ14 san đất tưởng vợ đi làm thuê ở Hà Nội sẽ gửi tiền về nhưng chị vợ đi luôn không về. Tôi thấy hoàn cảnh vậy nên cho anh Đ15 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng), lãi suất 1%/tháng, từ đó đến nay anh Đ16 trả được gốc nhưng vẫn trả lãi đều. Nay anh Đ17 hôn vợ tôi chưa đòi anh Đ18 chỉ đề nghị Toà án làm rõ trách nhiệm ai là người phải trả tôi khoản tiền đó và tôi đề nghị anh Đ19 đứng ra chịu trách nhiệm trả tôi.

Ông Nguyễn Ngọc T7 bày: Tôi và gia đình anh Đ9 quan hệ họ hàng 4 đời, bà nội tôi là em cô của ông ngoại anh Đ20 tôi có quan hệ bình thường vì toàn họ bên ngoại. Anh Đ21 bà L khoảng năm tôi học lớp 8 hoặc lớp 9. Khoảng năm 2015 tôi nghe người nhà nói bà L đi làm xa không về nhà đã mấy năm không rõ là đi đâu, chuyện tế nhị nên tôi không hỏi anh Đ

Sau tết âm lịch năm 2020 tôi nghe thấy tin cháu V13 con lớn anh Đ22 L đi lái xe thuê gây tai nạn cho ba người. Sau đó anh Đ23 gặp tôi nói chuyện là cháu V1 tai nạn phải tự bồi thường cho ba người bị hại hết 180.000.000đồng nhưng do mới làm nhà không còn tiền nên hỏi vay tôi 160.000.000đ và trả lãi bằng Ngân hàng là 0.8%/tháng và thế chấp nhà đất cho tôi. Do là chỗ người nhà tôi nhất trí cho vay nhưng không cầm giấy tờ nhà của anh Đ24 Đlà người viết giấy vay tiền. Sau đó đến tháng 6/2020 anh Đ25 đến vay thêm 90.000.000đ để nhờ người xin cho cháu V9 phải xử hình sự đi tù, tôi đồng ý và anh Đ26 giấy cho tôi. Từ khi vay anh Đ27 lãi đầy đủ cho tôi hàng tháng là 2.000.000đ/tháng. Nay vợ chồng anh Đ17 hôn, do tôi biết anh Đ16 có khả năng trả nên tôi vẫn cho anh Đ28 tục vay, khi xử anh Đ17 hôn tôi đề nghị Toà án ghi rõ vào trong quyết định của Toà là anh Đ29 bà L phải trả khoản tiền này cho tôi vì anh Đ30 người vay nhưng vay để bồi thường cho con trong khi bà L bỏ đi hơn chục năm đến khi mẹ đẻ chết mới về. Trường hợp anh Đ29 bà L không trả tôi tiền theo quyết định của Toà án thì tôi mới khởi kiện ra Toà án sau. Khoản tiền anh Đ31 nợ tôi là 250.000.0000đ (hai trăm năm mươi triệu đồng).

Người làm chứng, ông Nguyễn Thế D1: Tôi tham gia công tác ở địa phương, làm Trưởng xóm rồi lại làm Bí thư chi bộ từ năm 1986 đến năm 2017 tôi mới nghỉ. Gia đình ông Đ30 hàng xóm nhà tôi, nhà ở cạnh nhau. Về mâu thuẫn vợ chồng của anh Đ32 phát từ việc bà L đi làm ăn ở Hà Nội từ khoảng năm 2011-2012 (tôi không nhớ rõ) và không thấy về lại gia đình. Anh Đ33 nhà nuôi 02 con, hoàn cảnh kinh tế rất khó khăn. Đến năm 2021, khi mẹ của bà L là bà T2sắp mất thì bà L mới về. Khi bà L đi không thông báo gì cho địa phương nên anh Đ34 làm đơn đề nghị tuyên bố bà L mất tích ở Tòa án Đại Từ, địa phương chúng tôi cũng tưởng là bà L6 chết hoặc mất tích.

Về quan hệ giữa bố con anh Đ10 bà T4(là mẹ bà L) thì bà T2chỉ có 01 con duy nhất là bà L, bà T2có nhà, đất ở riêng. Khoảng năm 2016, dự án Xcủa H thu hồi toàn bộ đất của bà T2và trả tiền đền bù. Thời điểm đó bố con anh Đ35 được đền bù đất nên bố con anh Đ36 có tiền xây nhà mới, khi đó bà cụ có cho cháu A8 con anh Đ37 300.000.000 đồng để bà về ở với cháu A9 số tiền đó cháu A10 trích ra để mua xe máy SH khoảng gần 100.000.000 đồng và mua xe máy Airblade khoảng 50.000.000 đồng cho cháu VSau khi bố con anh Đ38 nhà xong thì bà T2về ở chung với bố con anh ĐKhoảng năm 2018 bà T2phát hiện bị ung thư, bố con anh Đ34 đưa đi chữa bệnh và chăm sóc rất tận tình, chu đáo. Đến năm 2021, trước khi bà T2chết khoảng 10 ngày thì mới thấy bà L về. Sau khi về thì bà L làm đơn tố cáo anh Đ4 sống như vợ chồng với người khác và sau đó bà L làm đơn tố cáo anh Đ39 Công an và sau đó anh Đ34 làm đơn xin ly hôn bà L ra Tòa án. Về tiền đền bù của công ty X cho anh Đ40 ngoài tiền đất thì các tài sản trên đất, khi nghe có dự án các gia đình trong xóm có xây dựng thêm công trình phụ, hàng rào, chuồng trại chăn nuôi, trồng thêm cây để khi doanh nghiệp đền bù được thêm tiền, anh Đ41 02 con trai đã xây hệ thống chuồng trại chăn nuôi kín trên phần đất bị thu hồi, do vậy số tiền đền bù về tài sản trên đất của công ty X1 liên quan gì đến bà L.

Về việc bà L nhận phần đất mà hiện nay bố con anh Đ34 xây nhà 02 tầng mới là của bà T2thì tôi có ý kiến như sau: Việc bà L khai như vậy là không đúng vì toàn bộ đất của bà T2đã bị thu hồi do dự án của công ty XCòn đất đai của vợ chồng Đ42 L2là do anh Đ43 trước đây và sử dụng ổn định từ năm 1995 đến nay, không có tranh chấp với ai.

Tòa án xác minh nơi cư trú của bà Nguyễn Thị L19 phường T, thành phố T cung cấp như sau: Bà Nguyễn Thị L năm 1969 có hộ khẩu tại xóm I, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyênhiện đang cư trú tại tổ G, phường T, T cùng nhà với ông Nguyễn Văn P4 Lvà ông P1thuê nhà của ông Ma N1 Hlban ngày bà L10 ông Plđều đi làm, ít khi ở nhà. Bà L10 ông Plđã ở cùng nhau tại tổ G phường Tkhoảng hai năm.

Tòa án xác minh thu thập chứng cứ tại Trung tâm quỹ đất huyện Đ, kết quả như sau: Hộ gia đình ông Phan Văn Đ44 hỗ trợ, bồi thường giải phóng mặt bằng theo 02 quyết định:

Quyết định số 10858/QĐ-UBND ngày 24/10/2016 của UBND huyện Đvề việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và phương án cải tạo lớp đất mặt dự án đầu tư Tiểu dự án bồi thường giải phóng mặt bằng công trình, đường trục mốc ĐT 261 đến khu vực Đền G, huyện ĐTổng số tiền phải chi trả 287.178.654 đồng (Hai trăm tám mươi bảy triệu một trăm bảy mươi tám nghìn sáu trăm năm mươi bốn đồng). Đã chi trả cho ông Đ45 đồng, trong đó bao gồm

  • + Bồi thường đất 46.228.100đ x 50%
  • + Bồi thường cây cối hoa màu 2.523.500 đ
  • + Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp 138.684.300 đ
  • + Hỗ trợ ổn định đời sống 3.960.000 ₫
  • + Thưởng BGMB trước thời hạn 1.916.800 ₫

Còn tiền bồi thường tài sản trên đất 93.865.954đ (chưa chi trả)

Quyết định số 13234/QĐ-UBND ngày 16/11/2016 của UBND huyện Đvề phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ và phương án cải tạo lớp đất mặt dự án đầu tư Tiểu dự án bồi thường giải phóng mặt bằng công trình đường trục nối ĐT 261 đến khu vực Đền G, Đại Từ. Tổng số tiền phải chi trả là 32.741.344 đồng (Ba mươi hai triệu bảy trăm bốn mươi mốt nghìn ba trăm bốn mươi bốn đồng). Đã chi trả cho ông Đ46 đồng ( Mười bảy triệu chín trăm bốn mươi chín nghìn không trăm chín mươi bốn đồng), trong đó bao gồm:

  • + Bồi thường đất: 29.584.500 đ x 50%
  • + Bồi thường tài sản 3.156.844 đồng.

Như vậy tổng số tiền được đền bù là 319.919.998 đ. Căn cứ các biên bản đã lập với ông Phan Văn Đ47 án đã chi trả cho ông Phan Văn Đ48 số tiền là 212.671.548 đồng là căn cứ vào quy định của pháp luật, tình hình thực tế của gia đình ông Đ10 số nhân khẩu thực tế tại địa phương.

Tổng số tiền còn lại còn phải chi trả cho hộ gia đình ông Phan Văn Đ10 bà Nguyễn Thị L20 107.248.450 đ (Một trăm linh bảy triệu hai trăm bốn mươi tám nghìn bốn trăm năm mươi đồng) là số tiền đền bù đất và tiền tài sản trên đất do liên quan đến bà Nguyễn Thị L21 bà L22 mặt tại địa phương và ông Đ16 giải quyết thủ tục ly hôn với bà L23 tòa án giải quyết vụ án ly hôn chia tài sản giữa ông Phan Văn Đ10 bà Nguyễn Thị Lđề n tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 19/5/2022 Tòa án xác minh tại UBND xã V quả như sau: Hiện ông Phan Văn Đ10 bà Nguyễn Thị L24 sử dụng các thửa đất sau:

  1. Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 15 (bản đồ địa chính) loại đất BHK. Đất bằng trồng cây hàng năm. Tổng diện tích 348.8m², đã thu hồi 256.2m², còn lại 92,6m².
  2. Thửa đất số 38 tờ bản đồ số 15 (bản đồ địa chính) loại đất BHK-đất bằng trồng cây hàng năm. Tổng diện tích 262,8m², đã thu hồi 248,8 m² còn lại 14m²(hiện nay đang dùng làm lối đi vào nhà anh Đ
  3. Thửa đất số 50, tờ bản đồ số 15(bản đồ địa chính) loại đất BHK-Đất bằng trồng cây hàng năm. Tổng diện tích 538,2m², đã thu hồi 209,3 m²còn lại 328,9 m²(Trên diện tích đất này anh Phan Hoàng A11 xây nhà kiên cố)
  4. Thửa đất số 42, tờ bản đồ số 15 (bản đồ địa chính) loại đất ONT (Đất ở tại nông thôn) và LNK (đất lúa). Tổng diện tích 885,4 m²đã thu hồi 244,5 (chỉ thu hồi đất LUK) còn lại 640,9 m²

(Các thửa đất này được thu hồi theo quyết định số 10858/QĐ-UBND ngày 24/10/2016 của UBND huyện ĐTất cả các thửa đất của ông Đ22 Lsử dụng đều là đất dưới lòng hồ, không đủ điều kiện cấp GCNQSDĐ.

  1. Thửa đất số 411, tờ bản đồ 13, diện tích 1115 m2, loại đất LUC

Ngoài ra ông Phan văn Đ1và bà Đỗ Thị L25 một số thửa đất nhưng là đất dưới lòng hồ Nthường xuyên ngập nước nên nhà nước không tiến hành đo đạc và thể hiện trên bản đồ được.

Ngày 18/4/2023 Tòa án xác minh tại UBND xã V kết quả về diện tích đất của ông Đ1và bà L3như nội dung xác minh ngày 19/5/2022, có thêm nội dung: Diện tích đất của bà T4(mẹ bà L3ở cạnh đất nhà ông Đldự án Xđã thu hồi hết.

Tòa án thẩm định và định giá tài sản kết quả như sau: Tất cả các thửa đất ông Đ1bà L3sử dụng và kê khai đều là đất dưới lòng hồ N không xác định được giá.

Nhà và nhà bếp xây dựng năm 2004 hiện đã hết khấu hao. Tất cả các đồ dùng trong gia đình nay đều đã hết khấu hao không xác định giá trị.

Mái tôn làm năm 2017 có giá 2.398.000đ. Nhà và sân xây trên thửa đất số 50 tờ bản đồ số 15 có giá: 393.705.886đ. Tổng trị giá tài sản là 396.103.886 đ.

Với nội dung trên tại bản án số 67/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Áp dụng các điều 28,35, 39, 143, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 55, 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 212 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Phan Văn Đ10 bà Nguyễn Thị L26
  2. Về con chung: Đã trưởng thành.
  3. Về tài sản chung:
  • - Giao cho bà Lsử dụng thửa đất số 26 diện tích 92,6m²; Thửa đất số 38 diện tích 14,4m²; một phần thửa đất số 42 diện tích 200m² (có sơ đồ kèm theo) đều của tờ bản đồ địa chính số 15 xã V huyện Đtrong đó có 133m2 đất ONT;
  • - Giao cho ông Đanh Phan Anh V14 anh Phan Hoàng Asử d diện tích đất còn lại của thửa đất số 42, toàn bộ thửa đất số 50 trong đó anh Đsử dụng 300m² đất có 133m² đất ONT; Anh Vvà anh Asử dụng diện tích đất còn lại của thửa đất số 50, thửa đất số 42 trong đó có 134m² đất ONT (phần có nhà mới xây của ba bố con ông Đ
  • - Giao cho ông Đsử dụng 500m² (theo sơ đồ) thửa đất số 411, tờ bản đồ địa chính số 13 xã V diện tích 1115 m², loại đất LUC.
  • - Giao cho bà Lsử dụng phần còn lại của thửa đất số 411, tờ bản đồ địa chính số 13 xã Vloại đất LUC
  • - Giao cho ông Đ24 Vvà anh A12 số tiền 84.134.400đ tại Trung tâm quỹ đất huyện Đ
  • - Giao cho bà L27 nhận 23.114.050đ tại Trung tâm quỹ đất huyện Đ
  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Đ49 định thửa 42 và thửa 50 tờ bản đồ địa chính số 15 xã V huyện Đlà tài sản chung của vợ chồng ông Đ10 bà LNgôi nhà xây dựng năm 2017 trên hai thửa đất này là tài sản chung của ông Đanh A13 anh V
  • - Về nợ chung: Không có;
  • - Các khoản cho vay: không có.

Nợ riêng: Ông Đ9 trách nhiệm hoàn trả ông Trần Đ50 H60.000.000đ tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận; Hoàn trả ông Nguyễn N2 T250.000.000đ tiền gốc và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận

Trường hợp ông Đ8 tự nguyện trả hai khoản tiền trên thì ông H2 ông T8 quyền khởi kiện đòi số tiền trên bằng vụ án khác tại Tòa án.

  1. Về án phí:
  • Ông Đ19 chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ đi vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ đã nộp tại Biên lai số 0013740 ngày 25/01/2021;
  • Ông Đ19 nộp 14.840.000 đồng án phí DSST, được trừ đi 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0004128 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, nay còn phải nộp tiếp 14.540.000đ án phí DSST;
  • Bà L28 nộp 27.802.000đ án phí DSST, đã nộp 11.000.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0003713 ngày 12/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, nay còn phải nộp tiếp 16.802.000đ án phí DSST.
  • Ông Đ9 nghĩa vụ hoàn trả cho bà L29 tiền 4.000.000đ tiền chi phí tố tụng khi giải quyết vụ án.

Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 11/12/2023 bà L14 đơn kháng cáo toàn bộ phần chia tài sản chung, đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm, bà L30 cầu xem xét lại việc phân chia đất tại thửa 50 của cấp sơ thẩm chưa hợp lý. Về số tiền thu hồi đền bù, hỗ trợ bà L30 cầu được lấy 80.000.000đ trong tổng số 107.248.450đ, số tiền còn lại ông Đ44 sở hữu, ông Đ51 trí.

Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho bà L31 nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận của các đương sự về việc thu hồi tiền đền bù hỗ trợ, sửa bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm giải quyết của đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bà L32 bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự tại phiên toà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1]. Tại phiên toà phúc thẩm các đương sự đã tự nguyện thoả thuận bà L27 sở hữu số tiền 80.000.000đ trong tổng số 107.248.450đ, mà cơ quan thu hồi đất đang giữ, số tiền còn lại 27.248.450đ, ông Đ44 sở hữu, ông Đ51 trí. Hội đồng xét xử thấy rằng đây là sự thoả thuận tự nguyện của các đương sự phù hợp với quy định tại Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự, do vậy ghi nhận sự thoả thuận này của các đương sự.

[2]. Tại phiên toà bà L30 cầu được chia đất tại thửa số 50 thì thấy rằng: Toà án cấp sơ thẩm xác định thửa số 50 có diện tích 538,2m² đã thu hồi 209,3m² còn lại 328,9m² trên diện tích này anh A13 anh V15 trai của ông bà đã xây nhà kiên cố nên giao diện tích đất còn lại của thửa 50 cho 3 bố con ông Đ30 hợp tình, hợp lý. Bà L33 được giao các thửa 26 diện tích 92,6m² và một phần thửa đất số 42 diện tích 200m² trong đó có 133m² là đất ONT là cũng hợp tình, hợp lý. Riêng thửa đất số 38 sau khi thu hồi còn lại diện tích 14,4m² mà hiện nay ba bố con ông Đ52 làm lối đi nhưng Toà sơ thẩm giao diện tích này cho bà L20 không phù hợp, cần giao cho 3 bố con ông Đ53 đường đi chung. Từ những nhận định trên không chấp nhận kháng cáo của bà L5 việc chia đất tại thửa 50.

[3]. Đối với số tiền ông Đ54 ông T9 H thì cả hai ông không có yêu cầu độc lập nên không giải quyết trong vụ án này. Nếu ông Đông T10 yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[4]. Về án phí các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật đối với số tiền mà mình được hưởng.

[5]. Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thoả thuận của các đương sự sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 300; khoản 2 Điều 308; Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận một phần kháng cáo của bà L, công nhận sự thoả thuận của các đương sự, sửa bản án sơ thẩm số 67/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Về tài sản chung:
  • - Giao cho ông Phan Văn Đ55 Phan Anh V14 anh Phan Hoàng Asử d thửa đất số 38 diện tích 14,4m²; diện tích đất còn lại của thửa đất số 42 và toàn bộ thửa đất số 50 trong đó ông Đsử dụng 300m² đất có 133m² đất ONT; Anh Vvà anh Asử dụng diện tích đất còn lại của thửa đất số 50, thửa đất số 42 trong đó có 134m² đất ONT (phần có nhà mới xây của ba bố con ông Đ Giao cho ông Đsử dụng 500m² thửa đất số 411, tờ bản đồ địa chính số 13 xã V diện tích 1.115m², loại đất LUC.
  • - Giao cho bà Nguyễn Thị Lsử d1 phần còn lại của thửa đất số 411, tờ bản đồ địa chính số 13 xã Vloại đất LUC; Thửa đất số 26 diện tích 92,6m²; một phần thửa đất số 42 diện tích 200m² đều thuộc tờ bản đồ địa chính số 15 xã V huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Bà Nguyễn Thị L34 sở hữu số tiền 80.000.000đ (tám mươi triệu đồng). Ông Đ44 sở hữu số tiền còn lại 27.248.450đ trong tổng số tiền 107.248.450đ mà hiện nay Trung tâm quỹ đất huyện Đ tạm giữ.
  • Trung tâm quỹ đất huyện Đ trách nhiệm trả tiền cho ông Đ10 bà L35 quyết định của bản án có hiệu lực pháp luật.
  1. Về án phí:
  1. Về án phí sơ thẩm:
  • - Ông Đ19 chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ đi vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp tại Biên lai số 0013740 ngày 25/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Ông Đ phải chịu 1.362.000đ (một triệu ba trăm sáu mươi hai nghìn đồng) án phí chia tài sản, được trừ đi 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0004128 ngày 09/12/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, nay còn phải nộp tiếp 1.062.000đ (một triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng);
  • - Bà Nguyễn Thị L36 chịu 4.000.000đ (bốn triệu đồng) án phí chia tài sản. Xác nhận đã nộp 11.000.000đ tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0003713 ngày 12/4/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ, được hoàn trả 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng)
  • Ông Đ9 nghĩa vụ hoàn trả cho bà L29 tiền 4.000.000đ tiền chi phí tố tụng khi giải quyết vụ án.
  1. Về án phí phúc thẩm:
  • - Bà Nguyễn Thị L36 chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí phúc thẩm. Xác nhận bà L6 nộp đủ án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 005251 ngày 15/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Đại Từ;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; Tòa GĐ&NCTN.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(ĐÃ KÝ)

Dương Văn Bản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHAN VĂN Đ VS NGUYỄN THỊ L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger