Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 15/8/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Chí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và bà Lương Thị Phấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Hải Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Mạng C; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam;

Sinh ngày 25/4/1995, tại huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Nơi cư trú: khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12;

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Nguyễn Mạnh H, sinh năm: 1962 và bà: Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972;

Vợ/con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật):

  • + Năm 2012, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, Phú Thọ xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • + Năm 2013, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, Phú Thọ xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.
  • + Năm 2015, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, Phú Thọ xử 36 tháng tù về tội Cướp giật tài sản. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/6/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Chị Hà Thị H1, sinh năm 1990; Địa chỉ: khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại chị H1: Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972; Địa chỉ: khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

a) Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 13/6/2024, Nguyễn Mạnh C2, sinh năm 1995, HKTT: khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đi xe khách từ nhà ở của mình đi đến xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ để mua đồ dùng cá nhân. Khi đi đến khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ C2 xuống xe, rồi vào quán ăn sáng ven đường để ăn sáng. Sau khi ăn sáng xong C2 đi bộ đến nhà chị Hà Thị H1, sinh năm 1990, thuộc khu B, xã T để chơi.

Khi C2 đến nhà chị H1 thì thấy cửa chính nhà chị H1 không khóa, hai cánh cửa mở nên C2 gọi “Chị H1 ơi” rồi đi thẳng vào nhà. Khi vào nhà, C2 thấy chị H1 ngủ tại phòng ngủ bên phải hướng từ phòng khách đi đến bếp, chếch chéo cửa chính, phòng ngủ không có cánh cửa. Thấy chị H1 đang ngủ say, tại đầu giường có 02 chiếc điện thoại di động, trong đó: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã cũ và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen đã cũ nên C2 đã nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên, C2 đi lại gần rồi cầm 02 chiếc điện thoại trên để vào túi áo chống nắng bên trái rồi đi bộ ra Quốc lộ C. Khi đến Quốc lộ C, C2 đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông đi đường (C2 không biết tên, tuổi, địa chỉ) về đến khu C, xã T thì C2 xuống xe đi bộ về nhà ngủ.

Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, C2 đi bộ ra đường rồi bắt xe khách tuyến Hà Nội - Sơn La đi đến xã T, khi xuống xe C2 đi bộ tìm quán mua đồ thì Công an xã T mời đến làm việc. Quá trình điều tra, C2 đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình và tự nguyện giao nộp 02 chiếc điện thoại đã chiếm đoạt. Công an xã T, huyện T đã lập biên bản thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ vụ án cùng đối tượng Nguyễn Mạnh C2, vật chứng liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện T điều tra theo thẩm quyền.

Trong quá trình điều tra, và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo đã khai nhận toàn bộ các hành vi chiếm đoạt tài sản của mình như đã nêu trên.

b) Các vấn đề khác của vụ án:

Ngày 14/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã yêu cầu Hội đồng định giá tài sản huyện T định giá 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen đều đã cũ của chị Hà Thị H1. Tại Kết luận định giá tài sản số 16/KL-ĐGTS ngày 14/6/2024 Hội đồng định giá tài sản thường xuyên huyện T kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu iphone 12 promax màu xanh đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng); 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm định giá là 950.000 đồng (Chín trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng cộng giá trị 02 chiếc điện thoại tại thời điểm định giá là 11.950.000 đồng (Mười một triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 16/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Mạnh C2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa chữa, bổ sung năm 2017 (nay viết tắt là BLHS năm 2015).

Xử lý vật chứng: Ngày 26/6/2024, chị Hà Thị H1 có đơn xin nhận lại tài sản, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T xác định 02 chiếc điện thoại nói trên là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị H1 nên đã trả lại cho chị H1 vào ngày 28/6/2024 theo quy định.

Về vấn đề dân sự: Ngày 28/6/2024, chị Hà Thị H1 xác nhận chị đã nhận lại 02 chiếc điện thoại bị trộm cắp nói trên. Đồng thời, ngày 26/6/2024 bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972, HKTT: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (là mẹ đẻ của Bị cáo C2) đã bồi thường cho chị H1 số tiền là 1.000.000 đồng nên chị H1 không có yêu cầu đề nghị gì thêm.

Xác minh tài sản của Bị cáo như sau: Trước khi bị bắt Nguyễn Mạnh C2 sinh sống cùng mẹ là Nguyễn Thị C1, sinh năm 1972, HKTT: Khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong căn nhà cấp 4 trên thửa đất đứng tên bà Nguyễn Thị C1. Bản thân C2 làm nghề tự do, sống phụ thuộc vào mẹ và không có tài sản giá trị gì khác.

c) Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 23/CT – VKSTS ngày 19/7/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015;

Xử phạt Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày Bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17/6/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Mạnh C2.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, đã được bồi thường và không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác nhận ngày 28/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho chị Hà Thị Hiền tài s là 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen đã qua sử dụng.

d) Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho B hại: Đồng ý với quan điểm của vị đại diện Viên kiểm sát tại phiên toà.

đ) Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt, cho Bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong qúa trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên toà hôm nay, Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của Bị hại cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 7 giờ 00 phút ngày 13/6/2024, tại nhà ở của chị Hà Thị H1 ở khu B, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, lợi dụng sự sơ hở của chị H1, Nguyễn Mạnh C2 đã lén lút chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại di động trị giá 11.950.000 đồng (trong đó có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng trị giá 11.000.000 đồng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen đã qua sử dụng trị giá 950.000 đồng).

Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác nhưng vì mục đích vụ lợi nên vẫn cố ý thực hiện.

Hành vi của Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2015.

Tại khoản 1 Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, hành vi phạm tội của Bị cáo cần phải được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ và Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử và đã được xóa án tích, xong lại không lấy đó là bài học cho bản thân lại có hành vi vi phạm pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 BLHS năm 2015.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo C2 đã tự nguyện giao nộp lại 02 chiếc điện thoại để trả cho bị hại, bản thân bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho chị H1 số tiền 1.000.000đ. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa Bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Ngoài ra, ngày 28/6/2024 chị Hà Thị H1 đã có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo C2. Do đó, cần cho Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015;

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo tuổi đời còn trẻ, không chịu lao động mà lại ham chơi và muốn hưởng lợi từ thành quả lao động của người khác. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo đã từng bị xét xử và đã được xoá án tích nhưng vẫn có ý thức coi thường pháp luật. Hành vi của Bị cáo không những làm ảnh hưởng tới tình hình trật tự trị an tại địa phương mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân. Mặc dù lần phạm tội này của Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xong xét thấy, việc áp dụng hình phạt khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa nên cần xử Bị cáo hình phạt tù có thời hạn trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định và ở mức thấp theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS năm 2015 thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Theo kết quả xác minh của cơ quan CSĐT Công an huyện T thì Bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị. Vì vậy, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

Ngày 26/6/2024, chị Hà Thị H1 có đơn xin nhận lại tài sản gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen. Xác định đây là tài sản hợp pháp của chị H1 nên Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã trả lại cho chị H1 vào ngày 28/6/2024 là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Đề nghị của Kiểm sát viên và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Bị hại tại phiên toà là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ kết tội, tội danh:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015;

Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Xử phạt Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày Bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 17/6/2024.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo Nguyễn Mạnh C2.

3. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 48 của BLHS năm 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Xác nhận ngày 28/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho chị Hà Thị Hiền tài s là 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo A15 màu đen.

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc Bị cáo Nguyễn Mạnh C2 phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - CQ CSĐT Công an huyện;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - UBND nơi b/c thường trú;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Chí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Mạnh Cường trộm cắp điện thoại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger