Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM BÔI

TỈNH HÒA BÌNH

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày: 15/07/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Mai Linh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Nghiệp và ông Ngô Trung Tính

Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Hồng Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi tham gia phiên tòa: Ông Vũ Bình Minh và ông Bùi Đình Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 07 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ tên : Bùi Văn N. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 25 tháng 9 năm 1977 tại: C - K - Hòa Bình; ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Xóm K, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Bùi Đức C, sinh năm: 1932 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị B, sinh năm: 1934 (đã chết); Vợ : Đinh Thị K, sinh năm: 1979 (đã ly hôn); Con: Bùi Bảo P, sinh năm: 1997; Con: Bùi Minh H, sinh năm : 1999. Bị cáo là con thứ tám trong gia đình có tám anh chị em.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 02/01/2008 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà” có và “Không tố giác tội phạm” theo bán bán số: 02/2008/HSST (đã chấp hành xong)

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2024, được trích xuất nay có mặt tại phiên tòa.

2. Người bào chữa cho bị cáo : Bà Bùi Thị V là trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. Có mặt.

3. Những người làm chứng :

  • Anh Quách Công T SN 1986. Có mặt
  • Anh Quách Công T1 SN 1984. Vắng mặt
  • Cùng trú tại : xóm K, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình
  • Anh Bùi Văn T2 SN 1996. Vắng mặt
  • Trú tại : xóm T, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn N, sinh năm: 1977, trú tại: xóm K, xã C, huyện K, tỉnh Hòà Bình là đối tượng sử dụng chất ma túy. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 29/01/2024, Bùi Văn N một mình bắt xe khách đi từ nhà ra thành phố Hà Nội mục đích để tìm mua ma tuý đem về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội thì Nhất tìm và gặp một người đàn ông lạ mặt giống với người nghiện ma túy. Qua trao đổi N đã hỏi mua được ma túy từ người này với số tiền 2.100.000 đồng (hai triệu một trăm nghìn đồng) và nhận lại 01 túi ni lông bên trong có chứa ma túy dạng chất bột dạng cục màu trắng, là ma túy loại heroin.

Sau khi mua được ma túy N cầm ở tay và bắt xe khách đi về nhà. Về đến nơi, N đã lấy một phần ma tuý vừa mua được đem ra sử dụng, số ma túy còn lại Nhất cắt nhỏ ra và đóng vào các gói giấy để bán lại cho người khác có nhu cầu mua để kiếm lời. Cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 30/01/2024, sau khi ăn cơm xong Nhất đi xuống lều trông cá nhà anh trai của Nhất là Bùi Văn X, sinh năm: 1967 tại xóm K, xã C, huyện K. Tại đây, N tiếp tục lấy gói ma túy đã mua được ra chia nhỏ thêm thành nhiều gói rồi cất xuống dưới đệm trong lều. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Quách Công T, sinh năm 1986 và Quách Công T1, sinh năm 1984, cùng trú tại xóm K, xã C, huyện K (là hai anh em ruột) cùng đi đến lều gặp N và hỏi mua ma túy của N. Nhất đồng ý rồi bán cho T và T1 ma túy mỗi người một gói với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng)/gói ma túy. Sau khi mua được ma túy của N, T và T1 cùng nhau ra về rồi đi sử dụng hết số ma túy vừa mua được của N.

Lần thứ hai: Vào khoảng 21 giờ cùng ngày 30/01/2024 có Bùi Văn T2, sinh năm: 1996, trú tại: Xóm T, xã C, huyện K là đối tượng sử dụng ma túy đi đến lều gặp N và hỏi mua ma tuý của N. N đồng ý rồi bán cho T2 ma túy với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Sau đó, T2 đi về nhà sử dụng hết số ma túy vừa mua được. Đối với số ma tuý còn lại, N tiếp tục đem cất giấu dưới đệm ở trong lều.

Vào khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự - Kinh tế - Ma túy Công an huyện K phối hợp với Công an xã Cuối Hạ đã đến căn lều nơi N đang ở kiểm tra lưu trú. Tổ công tác đã phát hiện và thu giữ toàn bộ số ma túy mà N cất giấu trước đó gồm 01 túi ni lông màu trắng bên trong có chứa ma túy dạng chất bột cục màu trắng và 08 gói giấy bên trong chứa ma túy dạng chất bột cục màu trắng. Sau đó, tổ công tác đã mời người chứng kiến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N.

Nhận thấy có căn cứ N vẫn còn cất giấu ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Văn N. Kết quả khám xét: Đã phát hiện thu giữ được 01 gói giấy màu xanh bên trong chứa ma tuý dạng chất bột cục màu trắng do N làm rơi ở dưới sàn nhà có cùng nguồn gốc với số ma tuý bị bắt quả tang trên.

Ngoài ra N còn khai nhận vào khoảng đầu tháng 01/2024, N đã đi ra khu vực thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội gặp một người đàn ông lạ mặt khác mua được ma túy với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau đó khi về nhà N đã bán ma tuý cho Quách Công T1 01 lần với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), bán ma túy cho Quách Công T 01 lần với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Tại Bản kết luận giám định số: 107-A/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh H ngày 01/02/2024 (BL 16) kết luận về đối tượng giám định như sau:

  • Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M1 trong phong bì số 01, một mặt có ghi "Chất nghi là ma túy thu giữ của Bùi Văn N khi bắt quả tang" gửi giám định có khối lượng 0,75g (không phẩy bảy mươi lăm gam), là ma túy, loại Heroine (H).
  • Heroine (H2) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số: 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
  • Các mẫu chất còn lại trong 02 phong bì niêm phong đang được tiến hành giám định."

Tại Bản kết luận giám định số: 107-B/KL-KTHS của Phòng K1 Công an tỉnh H ngày 25/3/2024 (BL 19) kết luận về đối tượng giám định như sau:

  • Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu từ M2 đến M9 trong phong bì số 01, một mặt có ghi "Chất nghi là ma tuý thu giữ của Bùi Văn N khi bắt quả tang" gửi giám định có tổng khối lượng 0,30g (không phẩy ba mươi gam), là ma túy, loại Heroine (H).
  • Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M10 trong phong bì số 02, một mặt có ghi "01 gói giấy chứa chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Bùi Văn N khi khám xét khẩn cấp" gửi giám định có khối lượng 0,03g (không phẩy không ba gam), là ma túy, loại Heroine (H).
  • Heroine (H2) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
  • Mẫu chất ký hiệu M1 trong Phong bì số 01 đã được trả lời kêt quả trong Kết luận giám định số 107-A/KL-KTHS ngày 01/2/2024 của Phòng K1.
  • H1 lại đối tượng giám định: 10 mẫu ma túy (Phong bì số 01: M1: 0,52g M2: 0,01g; M3: 0,02g; M4: 0,02g; M5: 0,02g; M6: 0,02g; M7: 0,03g; M8: 0,03g; M9: 0,02g; Phong bì số 02: M10: 0,02g), loại Heroine (H) cùng toàn bộ vỏ bao gói còn lại sau khi giám định.

Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy Bùi Văn N phải chịu trách nhiệm hình sự là: 0,75g + 0,30g + 0,03g = 1,08g (một phẩy không tám gam).

Vật chứng của vụ án gồm:

  • 01 (một) phong bì niêm phong dán kín nguyên vẹn, một mặt ghi “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi Văn N, sinh năm 1977 - Có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra: ngày 30 tháng 01 năm 2024. Tại: xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình”, mép dán có dấu tròn đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen, số IMEI: 860821052630736, bên trong chứa sim số 0971077444, tình trạng: màn hình bị vỡ, điện thoại đã qua sử dụng.
  • Số tiền 2.050.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành, bao gồm: 17 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 07 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng.

Tất cả những vật chứng trên đã được chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự huyện K bảo quản, chờ xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra truy tố Bùi Văn N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản cáo trạng số 16/CT – VKS, ngày 17/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn N về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS.

Tại phiên tòa : Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết định truy tố, tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử :

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 47 BLHS;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 ; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q

Xử phạt bị cáo Bùi Văn N từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả sau giám định

  • Tịch thu sung công quỹ nhà nước 300.000 đồng tiền bán ma túy mà có trong tổng số tiền 2.050.000 đồng đã thu giữ của bị cáo và truy thu 200.000 đồng tiền bị cáo bán ma túy vào khoảng đầu tháng 1/2024. Trả lại bị cáo số tiền sau khi đối trừ, tịch thu là 1.550.000 đồng.
  • Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen, số IMEI: 860821052630736, bên trong chứa sim số 0971077444.

* Bà Bùi Thị V trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo :

Cơ bản nhất trí với Bản luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX xem xét cân nhắc động cơ nguyên nhân phạm tội do bị cáo là người nghiện ma túy nên bị lệ thuộc vào chất ma túy và là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích mua bán không lớn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “ tự thú ” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS vì quá trình điều tra bị cáo đã tự khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào khoảng đầu tháng 1/2024. Do đó đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 7 ( bảy ) năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ”

Kiểm sát viên tranh luận đối đáp : Đề nghị HĐXX xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “ tự thú” theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo và giữ nguyên quan điểm về mức hành phạt như đã đề xuất.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật. Xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1.].Về tố tụng: Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2].Về hành vi của bị cáo :

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận do bản thân là người nghiện ma túy nên bị cáo đã mua ma túy về chia thành các gói nhỏ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời, cụ thể : Khoảng 20 giờ ngày 30/01/2024, bị cáo đã bán cho Quách Công TQuách Công T1 mỗi người một gói ma túy với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng)/1 gói. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày bị cáo tiếp tục bán cho Bùi Văn T2 01 gói ma túy với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bị cáo còn khai nhận vào khoảng đầu tháng 01/2024, bị cáo đi ra khu vực thị trấn V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội gặp một người đàn ông lạ mặt khác mua được ma túy với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau đó khi về nhà bị cáo đã bán ma tuý cho Quách Công T1 01 lần với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng), bán ma túy cho Quách Công T 01 lần với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng) và đã sử dụng hết số ma túy trên.

Trong giai đoạn điều tra Công an đã thu giữ của bị cáo tổng cộng 1,08 gam (một phẩy không tám gam) ma túy loại Heroin.

Xét lời khai của bị cáo là khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội đủ yếu tố cấu thành tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 BLHS như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bôi đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác. Vì vậy cần xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Về nhân thân : Bị cáo là người có nhân thân xấu, 2008 bị Tòa án nhân dân huyện Kim Bôi xử phạt 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà” có và “Không tố giác tội phạm” nhưng lại không lấy đó làm bài học tu tỉnh bản thân nay lại tiếp tục có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, điều đó chứng tỏ ý thức tu dưỡng rèn luyện của bị cáo là rất kém.

Về tình tiết giảm nhẹ TNHS : Xét bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, quá trình điều tra bị cáo đã tự khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy vào khoảng đầu tháng 1/2024. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nên khả năng nhận thức và hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Ngoài ra bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được tặng nhiều huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.

Về ý kiến của người bào chữa đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo mức án 07 ( B1 ) năm tù là không đảm bảo tính răn đe giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Từ những phân tích trên HĐXX nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc như đề nghị của Kiểm sát viên để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] .Về hình phạt bổ sung: Trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

[5]. Về các tình tiết khác của vụ án:

Đối với những người đã bán ma túy cho bị cáo vào đầu tháng 01/2024 và vào ngày 29/01/2024 do không biết nhân thân, lai lịch và đặc điểm nhận dạng của đối tượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không đủ căn cứ để xác minh và xử lý.

Đối với Quách Công T1, Quách Công T và Bùi Văn T2, sau khi mua ma túy của bị cáo đã sử dụng hết nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với các đối tượng trên. Do đó, Cơ quan điều tra sẽ chuyển hồ sơ đến chính quyền địa phương để theo dõi quản lý.

[6].Về vật chứng của vụ án : Đối với số ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen bên trong chứa sim số 0971077444, xét bị cáo không sử dụng vào việc hpạm tội nên cần trả lại bị cáo.
  • Số tiền 2.050.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1 đang lưu hành đã thu giữ của bị cáo. Trong đó có 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng ) tiền bán ma túy vào ngày 30/01/2024 mà có nên cần tịch thu sung công quỹ. Ngoài ra cần truy thu số tiền 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) bị cáo bán ma túy mà có vào khoảng đầu tháng 1/2024 để đối trừ luôn. Số tiền còn lại sau khi tịch thu, đối trừ là 1.550.000đ ( Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng ) không liên quan đến hành vi phạm tôi cần trả lại cho bị cáo.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1; khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50; Điều 47 BLHS;

Căn cứ Điều 106; khoản 2 Điều 136 ; Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội

Tuyên xử :

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn N phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy ”

2. Xử phạt : Bùi Văn N 08 ( T3 ) năm tù. Thời hạn thụ hình được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/01/2024.

3. Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín nguyên vẹn, một mặt ghi “Mẫu vật còn lại sau khi giám định. Vụ: Bùi Văn N, sinh năm 1977 - Có hành vi phạm tội về ma tuý. Xảy ra: ngày 30 tháng 01 năm 2024. Tại: xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình”, mép dán có dấu tròn đỏ niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong.
  • Tịch thu sung công quỹ nhà nước 500.000đ ( năm trăm nghìn đồng ) trong tổng số tiền đã thu giữ của bị cáo được niêm phong trong 01 phong bì niêm phong mặt trước ghi “ số tiền 2.050.000 đồng (hai triệu không trăm năm mươi nghìn đồng ) tạm giữ của Bùi Văn N, tại mép dán có dấu tròn đỏ niêm phong của Công an xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong. Trả lại bị cáo số tiền sau khi tịch thu là 1.550.000đ ( Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng ).
  • Trả lại bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen, số IMEI: 860821052630736, bên trong chứa sim số 0971077444.

( Toàn bộ các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình và được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/05/2024 giữa Công an huyện K, tỉnh Hòa Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo : Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở Tư pháp Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Kim Bôi;
  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan điều tra – CA Kim Bôi;
  • - Cơ quan THA hình sự - CA Kim Bôi;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kim Bôi;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Mai Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn N có hành vi mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger