Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày: 15/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Mùa
  2. Ông Phan Tấn Lãm

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kim Đức – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 và 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn L; sinh năm: 2003; nơi sinh: An Giang; Nơi đăng ký HKTT: xã V, huyện T, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; giới tính: Nam; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị C1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; ngày 13/10/2023 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa;

Bị hại: Bà Lê Mỹ D, sinh năm 2004, nơi cư trú: Khu phố C, Phường C, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt)

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Duy K, sinh năm 2002, nơi cư trú: Khu phố C, Phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt);

- Ông Nguyễn Thành A, sinh năm 2003, nơi cư trú: Ấp B, xã B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt);

- Bà Đặng Cao Hồng X, sinh năm 2004, nơi cư trú: Ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt);

- Bà Lê Thị L1, sinh năm 2006, nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn LLê Mỹ D có mối quan hệ yêu đương từ năm 2020. Trong thời gian này LD thường xuyên liên lạc với nhau bằng hình thức gọi “Video call” qua các nền tảng mạng xã hội Zalo và Facebook; trong đó có nhiều lần D gọi khi đang tắm khỏa thân (không mặc quần áo) hoặc chỉ mặc quần áo lót thì L lưu vào máy điện thoại di động của L. Khoảng tháng 6/2022, D chủ động chấm dứt mối quan hệ yêu đương, nhưng L không đồng ý nên đã có lời nói uy hiếp sẽ đưa các đoạn Video mà D tắm có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót đang lưu trữ trong máy điện thoại của L lên trang mạng xã hội nhằm mục đích để tiếp tục duy trì mối quan hệ yêu đương, nhưng D không đồng ý. Do đó, từ ngày 15/5/2023 đến ngày 19/5/2023, L ở phòng trọ của mình tại thôn A, xã Đ, huyện B đã đưa các đoạn video có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót của D lên trang mạng Facebook của quán C2 là “Ẩm Thực - Cooffe Happy Bill" nơi mà D đang phụ giúp việc (trang mạng của quán cà phê do Nguyễn Duy K quản lý) và các trang mạng cá nhân của Nguyễn Thành AĐặng Cao Hồng X (là bạn của D) nhằm mục đích xúc phạm đến nhân phẩm danh dự của D (Bl: 44, 45, 65, 66, 71, 72, 73, 74, 75, 76, 77).

Sau khi phát hiện Lê Văn L đưa các đoạn video có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót lên các trang mạng xã hội, Lê Mỹ D đã làm đơn tố giác gửi Công an thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, Công an thị xã C chuyển hồ sơ tố giác đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B để xác minh, điều tra theo thẩm quyền (Bl: 01, 02);

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại hiệu Samsung loại Galaxy A51, màu xanh – đen là của Lê Văn L;

Bản cáo trạng số 15/CT-VKSBGM ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Làm nhục người khác” theo điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lê Văn L và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155; Điều 38; Điều 50; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn L mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lê Mỹ D không có yêu cầu gì nên không đề cập đến (Bl: 68).

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại hiệu Samsung loại Galaxy A51, màu xanh – đen là của Lê Văn L, L đã sử dụng chiếc điện thoại này để lưu trữ các đoạn video và đưa các đoạn video có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót của Lê Mỹ D lên các trang mạng xã hội, do đó cần tịch thu xung công quỹ Nhà nước.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên tham gia quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của các bị cáo: Xét thấy các chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, như lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại; người làm chứng; phù hợp với thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, cùng toàn bộ các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở khẳng định: Nhằm mục đích để tiếp tục duy trì mỗi quan hệ yêu đương nhưng không được chấp nhận, nên từ ngày 15/5/2023 đến ngày 19/5/2023 Lê Văn L ở phòng trọ của mình tại thôn A, xã Đ, huyện B đã đưa các đoạn video có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót của Lê Mỹ D lên trang mạng Facebook của quán C2 là “Ẩm Thực - Cooffe Happy Bill” và các trang mạng cá nhân của Nguyễn Thành AĐặng Cao Hồng X nhằm mục đích xúc phạm đến nhân phẩm danh dự của D.

Đối chiếu hành vi nêu trên của bị cáo với những quy định của pháp luật hiện hành thì hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm a, e khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như Cáo trạng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm danh dự của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để bị cáo biết tôn trọng danh dự nhân phẩm của người khác, tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là đã bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Xét về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, hiện nay bị cáo có hộ khẩu thường trú tại xã V, huyện T, tỉnh An Giang nhưng bị cáo đã bỏ đi không cư trú ở địa phương từ lâu. Đối với chỗ ở hiện nay bị cáo không có chỗ ở ổn định, bản thân bị cáo đi ở trọ, không đăng ký tạm trú tại địa phương nên bị cáo không đủ điều kiện áp dụng biện pháp hưởng án treo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Văn L đã bồi thường cho bị hại số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng và bà Lê Mỹ D không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại hiệu Samsung loại Galaxy A51, màu xanh – đen là của Lê Văn L, L đã sử dụng chiếc điện thoại này để lưu trữ các đoạn video và đưa các đoạn video có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót của Lê Mỹ D lên các trang mạng xã hội, đây là vật chứng của vụ án nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Làm nhục người khác”.
  2. Về hình phạt:

    - Áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn L 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

  3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/4/2024); bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Công an huyện Bù Gia Mập;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về làm nhục người khác (criminal case)

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm nhục người khác (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nhằm mục đích để tiếp tục duy trì mỗi quan hệ yêu đương nhưng không được chấp nhận, nên từ ngày 15/5/2023 đến ngày 19/5/2023 Lê Văn L ở phòng trọ của mình tại thôn A, xã Đ, huyện B đã đưa các đoạn video có hình ảnh khỏa thân, mặc quần áo lót của Lê Mỹ D lên trang mạng Facebook của quán C2 là “Ẩm Thực - Cooffe Happy Bill” và các trang mạng cá nhân của Nguyễn Thành A và Đặng Cao Hồng X nhằm mục đích xúc phạm đến nhân phẩm danh dự của D.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger