|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ- ST
Ngày 13 tháng 5 năm 2024
V/v "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ VIỆT TRÌ – TỈNH PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Minh
Ông Nguyễn Ngọc Hà
Thư ký Tòa án ghi biên bản: Bà Phạm Thị Lan - Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Bà Đinh Diễm Kiều Trang - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13/5/2024 tại trụ sở TAND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 451/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31 ngày 05/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-DS ngày 25/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Sinh T, sinh năm 1983.
ĐKHKTT: đội 5, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Hôm nay, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1984
ĐKHKTT: đội, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Hôm nay, vắng mặt (không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và bản tự khai tiếp theo anh Nguyễn Sinh T trình bày: anh và chị Nguyễn Thị H được tự nguyện tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ năm 2008. Sau kết hôn thì anh chị về ở chung với bố mẹ đẻ của anh T tại khu E, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được một thời gian ngắn thì vợ chồng ra ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian. Đến tháng 11/2013 anh T đi lao động tại Đài Loan, khi đó vợ chồng vẫn liên lạc với nhau qua điện thoại. Đến tháng 10/2022 khi anh T về Việt Nam thì tình cảm vợ chồng bình thường. Sau đó đến khoảng tháng 03/2023 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và xảy ra cãi vã. Đến tháng 8/2023 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại: Khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Kể từ đó, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Anh T xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa anh và chị H không còn nên anh xin được ly hôn với chị H.
- Chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị H nhất trí với lời khai của anh T về quá trình kết hôn. Sau kết hôn thì anh chị về ở chung với bố mẹ đẻ của anh T tại khu E, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ được khoảng 01 năm thì vợ chồng ra ở riêng. Đến tháng 11/2013 anh T đi lao động tại Đài Loan, quá trình đó tình cảm vợ chồng vẫn bình thường và thường xuyên liên lạc với nhau. Đến cuối năm 2021, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh T có vợ con bên Đài Loan, do đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Đến cuối tháng 9/2022, anh T trở về Việt Nam, khi đó vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn và đánh chửi nhau nên mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng. Vì vậy đến tháng 9/2023, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị H tại phường B, thành phố V ở từ đó đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Chị H xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn, nay anh T xin ly hôn thì chị H đồng ý.
*Về con chung: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất xác định có 02 con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012. Hiện nay hai cháu đang ở cùng anh T.
Khi ly hôn, anh T tôn trọng sự lựa chọn của hai con về việc xin được ở với ai. Nếu 02 cháu lựa chọn ở với anh T thì anh T đề nghị chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị theo quy định của pháp luật. Nếu 02 cháu lựa chọn ở với chị H thì anh T đồng ý giao cho chị H được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi thành niên. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H theo quy định của pháp luật.
Khi ly hôn, chị H tôn trọng sự lựa chọn của hai con về việc xin được ở với ai thì giao cho người đó chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi thành niên. Nếu 02 cháu lựa chọn ở với chị H thì chị H đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị theo quy định của pháp luật. Nếu 02 cháu lựa chọn ở với anh T thì chị H đồng ý giao cho anh T và cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/3/2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì anh T thể hiện quan điểm: Do anh thường xuyên đi làm ăn xa tại Thái Lan nên anh đồng ý giao cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung. Anh T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu 1 tháng là 1.000.000₫ (Một triệu đồng); hai cháu là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) kể từ tháng 3/2024 đến khi từng cháu thành niên. Phương thức cấp dưỡng: hàng tháng.
*Về tài sản chung: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết.
*Về nợ chung, công sức đóng góp: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết.
Ngày 28/3/2024 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì ra thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 451c/2024/TB-TA và ấn định hòa giải vào ngày 05/4/2024 và giấy báo số 49/TA ngày 28/3/2024 để báo chị H đến làm việc tại tòa án vào ngày 05/4/2024 và gửi cho chị H. Nhưng sau đó Tòa án được chuyển hoàn do gọi điện chị H không nghe, không gửi báo phát được cho chị H.
Ngày 05/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXX-HNGĐ.
Ngày 08/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã tiến hành xác minh tại Công an xã T được cung cấp: chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 13/4/1984, CCCD số [...] có đăng ký hộ khẩu thường trú tại: đội E, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Hiện nay chị H đang có mặt tại địa phương cùng hai con của chị H tại đội E, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
Ngày 08/4/2024 Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đến tống đạt giấy báo và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số số 31/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 05/3/2024 cho chị Nguyễn Thị H nhưng chị H không có mặt ở nhà vì vậy Tòa án không thể giao cho chị H. Bà Nguyễn Thị V – Trưởng khu cung cấp thêm: chị Nguyễn Thị H hiện vẫn đang có mặt tại địa phương. Vì vậy Tòa án đã lập biên bản làm việc với bà Nguyễn Thị V – Trưởng khu 5 để làm thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị H theo quy định của pháp luật.
Ngày 29/3/2024 anh Nguyễn Sinh T có đơn xin giải quyết vắng mặt và thể hiện quan điểm: Về con chung: anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012. Khi ly hôn do anh thường xuyên đi làm ăn xa tại Thái Lan nên anh đồng ý giao cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung.
* Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện VKS nhân dân thành phố V có quan điểm: vụ án thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đại điện VKS đề nghị Hội đồng xét xử:
Về quan hệ hôn nhân: công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H.
Về con chung: giao cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012 đến khi thành niên.
Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: anh Nguyễn Sinh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu một tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng); hai cháu là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), kể từ tháng 6/2024 đến khi từng cháu thành niên. Phương thức cấp dưỡng: hàng tháng.
Về tài sản chung: anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không xem xét giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp: anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Anh Nguyễn Sinh T phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Anh Nguyễn Sinh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con khi ly hôn. Đây là tranh chấp về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại: đội A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về sự vắng mặt của các đương sự: Anh Nguyễn Sinh T2 có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị Nguyễn Thị H đã được Tòa án làm thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng chị H vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại các Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành đưa ra xét xử vắng mặt anh T và chị H là đúng quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ là phù hợp với luật hôn nhân gia đình Việt Nam. Theo anh T trình bày vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 03/2023 nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm và xảy ra cãi vã. Đến tháng 8/2023 chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Anh T xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên anh T xin được ly hôn với chị H.
Phía chị H đã có quan điểm đồng ý ly hôn với anh T vì tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy về quan hệ hôn nhân xác định được mâu thuẫn vợ chồng giữa anh T và chị H đã trầm trọng, cuộc sống không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó nên áp dụng Điều 55 luật hôn nhân và gia đình năm 2014 công nhận thuận tình ly hôn giữa anh T và chị H.
[3] Về con chung: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất xác định có 02 con chung là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012. Anh, chị đồng ý tôn trọng sự lựa chọn của các con chung về việc xin ở với ai thì đồng ý giao cho người đó trực tiếp, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục và đề nghị phía bên kia cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Ngày 08/12/2023 hai con chung của anh T và chị H là cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012 đã đến tòa án viết bản tự khai, nguyện vọng của hai cháu đều xin được ở với chị H.
Anh Nguyễn Sinh T có quan điểm giao cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục hai con chung.
Xét thấy nguyện vọng của anh T cũng như nguyện vọng của hai con chung của anh T và chị H là chính đáng. Vì vậy giao cho chị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012 đến khi thành niên.
[4] Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: anh Nguyễn Sinh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu một tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng); hai cháu là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), kể từ tháng 6/2024 đến khi từng cháu thành niên. Phương thức cấp dưỡng: hàng tháng.
[5] Về tài sản chung: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất có tài sản chung nhưng không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về nợ chung, công sức đóng góp: Anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất không đề nghị Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí: Anh Nguyễn Sinh T phải chịu tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H.
2. Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị H là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Phi L, sinh ngày 10/9/2009 và cháu Nguyễn Mạnh T1, sinh ngày 04/11/2012 đến khi thành niên.
3. Về mức cấp dưỡng nuôi con chung: anh Nguyễn Sinh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi cháu một tháng là 1.000.000đ (Một triệu đồng); hai cháu là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), kể từ tháng 6/2024 đến khi từng cháu thành niên. Phương thức cấp dưỡng: hàng tháng.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
4. Về tài sản chung: anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không xem xét giải quyết.
5. Về nợ chung, công sức đóng góp: anh Nguyễn Sinh T và chị Nguyễn Thị H thống nhất tự thỏa thuận, không đề nghị Tòa án giải quyết. Nên không xem xét giải quyết.
6. Về án phí: Anh Nguyễn Sinh T tự nguyện chịu 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Xác nhận anh Nguyễn Sinh T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005542 ngày 19/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Anh T còn phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Phạm Hồng Vân |
Bản án số 21/2024/HNGĐ- ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ – TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ – TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh T xin ly hôn c H
