TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12 tháng 06 năm 2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tư.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 52/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-ST ngày 10 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QÐST-HNGĐ ngày 27/05/2024 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Anh Phan Văn L, sinh năm 1991.
Địa chỉ: Thôn R, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
(Có đơn xin vắng mặt)
2.Bị đơn: Chị Nguyễn Phương T, sinh năm 2000.
Địa chỉ: Khu C, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Phan Văn L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Phương T kết hôn ngày 15/4/2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn, anh và chị T về chung sống với nhau. Sau khi về chung sống, vợ chồng đã có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống trong các vấn đề sinh hoạt gia đình. Đến cuối năm 2022, chị T về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng
chính thức ly thân. Vợ chồng, hai bên gia đình có nói chuyện với nhau để hoà giải nhưng sự việc ngày càng trầm trọng, càng xảy ra tranh cãi. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn chị T.
- Về con chung: Anh và chị T có một con chung là Phan Thảo L1, sinh ngày 08/01/2023. Hiện nay, con chung đang ở cùng với chị T. Sau khi ly hôn, anh đồng ý để chị T nuôi con chung và anh sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung, về nghĩa vụ chung về tài sản: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn chị Nguyễn Phương T không đến Tòa án làm việc, không có văn bản thể hiện quan điểm.
* Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập một số tài liệu, chứng cứ.
- Tại Biên bản làm việc ngày 04/5/2024, bà Thân Thị D là mẹ chị T cung cấp: Anh L, chị T về chung sống và đăng ký kết hôn năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà anh L. Đến khoảng tháng 8/2022, khi chị T mang thai thì vợ chồng thoả thuận để chị T về nhà bà dưỡng thai. Tuy nhiên, sau khi chị T về nhà bà thì xảy ra mâu thuẫn, xích mích vì anh L có quan hệ tình cảm với người khác. Hai bên gia đình đã hoà giải, động viên nhưng vợ chồng chị T không về đoàn tụ với nhau mà chị T vẫn ở nhà bà từ tháng 8/2022 đến nay. Anh L và chị T có một con chung là Phan Thảo L1, sinh ngày 08/01/2023. Kể từ khi sinh con đến nay, anh L chỉ đến thăm con một lần, còn lại anh L không quan tâm gì đến con cái. Hiện cháu L1 vẫn đang sống cùng với chị T ở nhà bà, khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Chị T hiện đang làm công nhân, thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi con. Chị T có nói với bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng con chung và có nguyện vọng được anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Còn việc anh L đề nghị được ly hôn thì chị T đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Tại Biên bản xác minh ngày 10/5/2024, trưởng khu C, xã S, thành phố B cung cấp: Chị T sinh sống tại địa phương từ đến năm 2022 thì kết hôn với anh L và về nhà anh L sinh sống. Cuối năm 2022, chị T một mình về nhà đẻ sinh sống. Anh L, chị T có phát sinh mâu thuẫn gì hay không thì địa phương không nắm rõ, chỉ biết từ khi chị T về địa phương sinh sống thì không thấy anh L về sống cùng, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Anh L, chị T có 1 con chung, hiện nay đang sống cùng chị T. Chị T làm công nhân, có đủ thu nhập, điều kiện để nuôi con.
* Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không hòa giải được vì bị đơn chị T vắng mặt.
* Tại phiên toà ngày 27/05/2024, bị đơn chị T vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.
* Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn chị T tiếp tục vắng mặt. Nguyên đơn anh L có đơn xin vắng mặt, giữ nguyên quan điểm trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn L được ly hôn chị Nguyễn Phương T.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Phương T nuôi con chung là Phan Thảo L1, sinh ngày 08/01/2023. Anh Phan Văn L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 07/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn chị Nguyễn Phương T cư trú tại xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Do vậy, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền, đảm bảo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Phan Văn L có đơn xin vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Phương T đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa mở lần thứ hai không lý do. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị T kết hôn ngày 15/4/2022 trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu. Tại thời điểm kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết
hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh L và chị T có mâu thuẫn, đã ly thân từ tháng 8/2022 đến nay, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Tòa án cũng đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng chị T đều vắng mặt, anh L cương quyết ly hôn chứng tỏ mâu thuẫn giữa anh L và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của anh L về việc ly hôn chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung:
[4.1] Anh L và chị T có một con chung là Phan Thảo L1, sinh ngày 08/01/2022, hiện đang sống cùng chị T. Xét thấy, hiện nay con chung dưới 36 tháng tuổi, chị T có việc làm, nơi ở ổn định, anh L cũng đồng ý để chị T nuôi con chung nên cần giao cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4.2] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Theo thông tin mẹ đẻ chị T cung cấp thì chị T có nguyện vọng được anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Anh L đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, cần buộc anh L cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 07/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
[4.3] Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không có yêu cầu gì nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Anh L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo qui định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 3 Điều 81, khoản 2 Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 238, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn L được ly hôn chị Nguyễn Phương T.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Phương T nuôi con chung là Phan Thảo L1, sinh ngày 08/01/2022. Anh Phan Văn L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 07/2024 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của người con, Toà án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức đóng góp cấp dưỡng nuôi con nếu sau này các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001627 ngày 05/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Anh L còn phải nộp 300.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Phương Thảo |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn L - Nguyễn Phương T Ly hôn
