TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày: 12 - 6 - 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Văn Đặng và ông Nguyễn Quang Ninh
- Thư ký phiên tòa: bà Võ Thị Trang Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 16/2024/TLST-DS ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-DS ngày 13/5/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1, cùng địa chỉ: K C, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng;
- Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: bà Trương Thị H2, địa chỉ: Số G V, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
- - Bị đơn: Công ty TNHH F, địa chỉ: thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; người đại diện theo pháp luật: ông Trần Văn H3 - Chủ tịch Công ty;
- Người đại diện theo ủy quyền: ông Lê Hoàng T, địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà F, ngõ E L, phường M, quận N, Hà Nội, có mặt;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần F;
- Địa chỉ: Tầng B Tòa nhà B, số B đường C, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Tiến D, chức vụ: Tổng Giám đốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/01/2024, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa xét xử vụ án, phía nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H, ông Lương Minh H1 và người đại diện theo ủy quyền bà Trương Thị H2 trình bày:
Ngày 01/12/2018, sau khi được Công ty TNHH F (Sau đây gọi là “Công ty F”) giới thiệu, cam kết là đơn vị tư vấn, môi giới và độc quyền tổ chức phân phối bất động sản shophouse (đã bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và giá trị cọc móng) thuộc dự án Trung tâm Hội Nghị, khách sạn, du lịch nghỉ dưỡng và biệt thự nghỉ dưỡng FLC Q tại xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, ông bà đã ký văn bản thỏa thuận số IV-SH.12.02/ 2018/ VBTT/FLCQUANGBINH cùng các hồ sơ đính kèm với Công ty F và đã nộp tổng số tiền là 1.463.900.000 đồng (Một tỷ bốn trăm sáu mươi ba triệu chín trăm nghìn đồng) với cam kết đến tháng 4/2019 ký hợp đồng mua bán.
Tuy nhiên đến thời hạn trên ông, bà vẫn chưa được ký hợp đồng mua bán. Sau khi tìm hiểu thì ông, bà được biết Dự án trên chưa đủ điều kiện để bán theo quy định. Từ năm 2020, ông, bà đã gửi Đơn tố cáo đến Thủ tướng và cơ quan có thẩm quyền về việc F đã có hành vi lừa dối khách hàng trong việc ký kết Văn Bản T, thực hiện việc rao bán các sản phẩm bất động sản khi chưa đủ điều kiện theo quy định. Vì sợ ảnh hưởng đến tình hình thực hiện dự án, lãnh đạo Công ty F, cụ thể là bà Hồ Thị H4 đồng ý thanh lý Văn bản thỏa thuận, sau khi trừ các phí sẽ hoàn trả lại tiền đã đóng là 1.383.470.550 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng).
Ngày 15/01/2022, hai bên đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận, theo đó tiến độ thanh toán như sau:
- Đợt 1: 230.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 25/8/2022
- Đợt 2: 230.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 24/9/2022
- Đợt 3: 230.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 24/10/2022
- Đợt 4: 230.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 23/11/2022
- Đợt 5: 230.000.000 đồng thanh toán chậm nhất ngày 23/12/2022
- Đợt 6: 233.470.550 đồng thanh toán chậm nhất ngày 22/01/2023.
Tuy nhiên kể từ thời điểm ký Biên bản thanh lý đến nay, phía Công ty F không thanh toán một khoản nào cho ông bà như tiến độ đã cam kết.
Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc Công ty F phải thanh toán hoàn trả đầy đủ theo biên bản thanh lý văn bản thỏa thuận nêu trên số tiền: 1.383.470.550 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng) cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1. Buộc Công ty Cổ phần F cùng có trách nhiệm cùng với Công ty F để trả số tiền trên cho ông, bà.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phía nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu buộc Công ty Cổ phần F có trách nhiệm cùng Công ty TNHH F trả số tiền còn chưa hoàn trả cho ông, bà. Giữ nguyên yêu cầu buộc Công ty TNHH F phải thanh toán hoàn trả đầy đủ theo Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận số tiền 1.383.470.550 đồng (Một tỷ, ba trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm bảy mươi nghìn, năm trăm năm mươi đồng) cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1.
Bị đơn Công ty TNHH F, người đại diện theo ủy quyền ông Lê Hoàng T trình bày tại bản tự khai, quá trình hòa giải và tại phiên tòa như sau:
Ngày 30/11/2018, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 cùng Công ty TNHH F ký kết Văn bản thỏa thuận số IV-SH.12.02/ 2018/ VBTT/ FLCQUANGBINH về việc giới thiệu, tư vấn và hỗ trợ cho ông bà mua bất động sản với tổng chi phí dịch vụ là 1.463.900.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm sáu mươi ba triệu, chín trăm nghìn đồng).
Sau khi ký Văn bản thỏa thuận, đến ngày 15/01/2022, ông bà đã cùng Công ty TNHH F đã ký Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận nêu trên. Theo đó, Công ty TNHH F sẽ hoàn trả cho ông bà số tiền (sau khi trừ đi các chi phí) là 1.383.470.550 đồng (Một tỷ, ba trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm bảy mươi nghìn, năm trăm năm mươi đồng)
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Công ty TNHH F thanh toán toàn bộ số tiền theo Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận số IV-SH.12.02/ 2018/ VBTT/FLCQUANGBINH: Do tình hình tài chính khó khăn, Công ty TNHH F vẫn đang nỗ lực và sẽ cố gắng có phương án thanh toán dần toàn bộ số tiền nêu trên trong thời gian sớm nhất.
Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, phía Công ty F thừa nhận việc ký kết các văn bản như phía nguyên đơn trình bày, thể hiện mong muốn hoàn trả số tiền như trên cho phía nguyên đơn trong thời gian sớm nhất, tuy nhiên các bên không đi đến thỏa thuận thống nhất phương án trả nợ nên việc hòa giải không thành.
Tại phiên tòa phía nguyên đơn và bị đơn vẫn không thỏa thuận thống nhất được giải quyết toàn bộ vụ án, giữ nguyên quan điểm của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc có bị đơn là Công ty TNHH F có trụ sở tại địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Về phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần F, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng phía Công ty không có ý kiến cũng như không ủy quyền người tham gia tố tụng. Phía nguyên đơn đã rút yêu cầu buộc Công ty Cổ phần F có trách nhiệm trả tiền, phiên tòa được mở lần thứ hai, vì vậy Hội đồng xét xử tiếp tục phiên tòa xét xử vắng mặt Công ty Cổ phần F theo đúng quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty TNHH F phải thanh toán hoàn trả đầy đủ theo Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận số tiền 1.383.470.550 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng) cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn và bị đơn đều trình bày thống nhất: Ngày 30/11/2018, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 cùng Công ty TNHH F ký kết Văn bản thỏa thuận số IV-SH.12.02/2018/VBTT/ FLCQUANGBINH về việc giới thiệu, tư vấn và hỗ trợ mua bất động sản với tổng chi phí dịch vụ là 1.463.900.000 đồng. Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 đã thực hiện chuyển số tiền này đầy đủ cho Công ty TNHH F. Do không thực hiện được nội dung trong Văn bản thỏa thuận này, đến ngày 15/01/2022, bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 đã cùng Công ty TNHH F đã cùng ký Biên bản thanh lý Văn bản thỏa thuận nêu trên. Theo Biên bản thanh lý, Công ty TNHH F sẽ hoàn trả cho ông bà số tiền (sau khi trừ đi các chi phí) là 1.383.470.550 đồng theo lộ trình thời gian hai bên đã thỏa thuận. Sự việc này các bên thừa nhận nên không cần phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Biên bản thanh lý ngày 15/01/2022 được thay thế cho Văn bản thỏa thuận 30/11/2018, do đó Hội đồng xét xử xem xét các chủ thể ký kết Biên bản thanh lý ngày 15/01/2022 có quyền ký kết và đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên có hiệu lực thực hiện đối với các bên kể từ ngày ký kết. Công ty TNHH F vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền theo Biên bản thanh lý nên bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 khởi kiện là có cơ sở. Cần buộc Công ty TNHH F phải thanh toán hoàn trả số tiền 1.383.470.550 đồng (Một tỷ ba trăm tám mươi ba triệu bốn trăm bảy mươi nghìn năm trăm năm mươi đồng) cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1.
Về tiền lãi, phía nguyên đơn không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.2] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, phía nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện về việc buộc Công ty Cổ phần F có trách nhiệm cùng Công ty TNHH F hoàn trả số tiền 1.383.470.550 đồng cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1.
Hội đồng xét xử nhận thấy việc nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ Điều 244 BLTTDS để đình chỉ xét xử.
[3] Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 244; Điều 266; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự. Các Điều 116, 117, 118, 119 và Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1. Buộc Công ty TNHH F phải thanh toán, hoàn trả ngay số tiền 1.383.470.550 đồng (Một tỷ, ba trăm tám mươi ba triệu, bốn trăm bảy mươi nghìn, năm trăm năm mươi đồng) cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty Cổ phần F có trách nhiệm cùng Công ty TNHH F hoàn trả số tiền 1.383.470.550 đồng cho bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Công ty TNHH F phải nộp số tiền 53.504.117 đồng (Năm mươi ba triệu, năm trăm lẻ bốn nghìn, một trăm mười bảy đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà Nguyễn Thị Thúy H và ông Lương Minh H1 được nhận lại số tiền 26.752.000 đồng (Hai mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi hai nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003783 ngày 04/3/2024.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Nam |
Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 21/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thúy Hà, Lương Minh Hà yêu cầu FLC Quảng Bình thanh toán trả tiền đặt cọc
