TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Công Lực.
Các Thẩm phán: ông Nguyễn Đắc Cường;
bà Trần Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 475/2023/TLPT-DS ngày 07/11/2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản, tranh chấp tài sản chung”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 485/2023/QĐ-PT ngày 12/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Võ Thị Mai X, sinh năm 1944; trú tại: số nhà B, đường B, tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Lê Thị L, sinh năm 1991; địa chỉ liên hệ: số C, Đại lộ B, khu phố B, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 12/12/2023). Bà L có mặt.
- Bị đơn: bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1982; trú tại: đường B, tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Võ Văn V, sinh năm 1967; địa chỉ: khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (theo giấy ủy quyền ngày 09/8/2023). Ông V có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
+ Cháu Nguyễn Trần Minh Q, sinh ngày 08/10/2005; địa chỉ thường trú: đường B, tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
+ Cháu Nguyễn Trần Quang V1, sinh ngày 17/3/2008; địa chỉ thường trú: đường B, tổ A, khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của cháu Q và cháu V1: bà Trần Thị Minh T, sinh năm 1982 là người đại diện theo pháp luật (bà T là mẹ ruột của cháu Q và cháu V1). Bà T vắng mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn bà Trần Thị Minh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong Đơn khởi kiện ngày 10/01/2020, các đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ huyết thống: Cụ Nguyễn Văn B, sinh năm: 1944, chết ngày 03/01/2019. Cha của cụ B là cụ Phạm Văn X1 (liệt sỹ, hy sinh trước năm 1947). Mẹ của cụ B là cụ Nguyễn Thị C, chết ngày 29/8/2003.
Cụ B có vợ là cụ Võ Thị Mai X. Cụ B và cụ X có 01 con chung là ông Nguyễn Quang G, sinh năm: 1976, chết ngày 17/8/2012. Ông G có vợ là bà Trần Thị Minh T (bị đơn) và 02 con là cháu Nguyễn Trần Minh Q và cháu Nguyễn Trần Quang V1.
Ngoài ra, cụ B và ông G không có cha mẹ nuôi, con nuôi, con riêng nào khác. Cụ B chết không để lại di chúc.
Về di sản: Quá trình chung sống, cụ B và cụ X tạo lập được các tài sản sau:
- - Thửa đất số 433 (cập nhật biến động ngày 17/01/2012 là thửa 1601), tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, có diện tích 15.730m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số AB952121, số vào sổ cấp GCN: H00310, ngày 05/5/2005 cho hộ ông Nguyễn Văn B. Trên đất có 01 căn nhà cấp 4, mái che do vợ chồng cụ B, cụ X xây dựng năm 2013; 644 cây cao su do vợ chồng cụ X trồng khoảng năm 2004-2005.
- - Thửa đất số 328, 329, 330, 331, 332, 333, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, có diện tích 2.125,9m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số AM565722, số vào sổ cấp GCN: H02071, ngày 03/11/2008 cho ông Nguyễn Văn B.
- - Thửa đất số 121, 122, 123, 144, 145, 146, 147, 188, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, có diện tích 3.790,3m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số AM565723, số vào sổ cấp GCN: H02072, ngày 03/11/2008 cho ông Nguyễn Văn B.
3
- - Thửa đất số 183, 232, 234, 236, 278, 279, 280, 281, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, có diện tích 3.409,8m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số AM565724, số vào sổ cấp GCN: H02073, ngày 03/11/2008 cho ông Nguyễn Văn B.
- - Thửa đất số 282, 283, 284, 285, 286, 324, 326, 327, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, có diện tích 3.145,1m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số AM565725, số vào sổ cấp GCN: H02074, ngày 03/11/2008 cho ông Nguyễn Văn B.
- - Thửa đất số 389, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, có diện tích 19.048,6m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số CB949641, số vào sổ cấp GCN: CH12796, ngày 24/5/2016 cho ông Nguyễn Văn B.
Tất cả các thửa đất trên có nguồn gốc do cụ B, cụ X khai phá từ năm 1975, sau đó sử dụng ổn định, lâu dài cho đến nay.
Tại Đơn khởi kiện ngày 10/01/2020, cụ X khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của cụ B và cụ X, yêu cầu phân chia thừa kế của cụ B theo quy định của pháp luật, yêu cầu được chia bằng hiện vật diện tích đất tương ứng với kỷ phần mà cụ được hưởng.
Ngày 01/3/2021, cụ X khởi kiện bổ sung yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản gắn liền với thửa đất số 1601 là nhà ở, mái che và cây cao su, đề nghị Tòa án buộc cháu Q, V1 phải hoàn trả cho cụ X giá trị cây trồng gắn liền với diện tích đất chia cho các cháu.
Ngày 29/01/2021, cụ X rút yêu cầu khởi kiện đối với các thửa đất số: 328, 329, 330, 331, 332, 333,121, 122, 123, 144, 145, 146, 147, 188, 183, 232, 234, 236, 278, 279, 280, 281, 282, 283, 284, 285, 286, 324, 326, 327 và 389, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương và các yêu cầu khởi kiện này đã được Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Dương đình chỉ xét xử nên nguyên đơn không yêu cầu xem xét giải quyết.
Nay, nguyên đơn yêu cầu Toà án công nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất thuộc thửa số 1601, tờ bản đồ số 52, toạ lạc tại phường M, có diện tích qua đo đạc thực tế: 15.893,4m² là tài sản chung của cụ X và cụ B, yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ B theo quy định pháp luật. Đối với 644 cây cao su là tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất, yêu cầu Tòa án phân chia cây cao su trên đất và số cây cao su được chia trên đất ai người đó hưởng, cụ X không yêu cầu cháu Q và cháu V1 phải bồi hoàn giá trị cây cao su cho cụ X.
* Trong bản tự khai và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn bà Trần Thị Minh T, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
4
- - Về quan hệ huyết thống: bà T thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn về quan hệ huyết thống.
- - Về quan hệ hôn nhân: bà T và ông G là vợ chồng, đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M (nay là phường M) vào ngày 09/3/2005. Hôn nhân giữa bà T và ông G là hoàn toàn tự nguyện. Ông G chết ngày 17/8/2012. Ông G và bà T có 02 con chung là cháu Nguyễn Trần Minh Q và cháu Nguyễn Trần Quang V1.
- - Về nguồn gốc tài sản tranh chấp: Phần đất thuộc thửa 1601 có nguồn gốc do cụ B và cụ X khai phá năm 1979. Khi bà T về làm dâu, trên thửa đất đã có căn nhà cấp 4 cũ. Vợ chồng bà T sống cùng cha mẹ chồng (cụ X, cụ B) trong căn nhà cấp 4. Đến năm 2013, cụ B, cụ X xây nhà cấp 4, làm mái che trên thửa đất 1601 và cụ B, cụ X chuyển đến đó sống. Vợ chồng bà ra ở riêng và không sống chung với các cụ. Bà T xác định căn nhà cấp 4, mái che là do cụ B xây dựng từ năm 2013, không phải do cụ X xây dựng.
- - Đối với 644 cây cao su trồng trên thửa đất số 1601: Năm 2005, cụ B, cụ X bỏ vốn mua cây giống, phân tro và mướn công trồng; còn vợ chồng bà trông coi việc trồng và chăm sóc cây. Năm 2012, bắt đầu thu hoạch mủ cao su, bà T trực tiếp cạo mủ từ năm 2012 cho đến năm 2022 thì ngưng, cụ X trả tiền công cho bà T 200.000 đồng/ngày cạo mủ, lượng mủ thu được cụ X bán và sử dụng số tiền này, không chia cho bà T.
Nay, cụ X khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung, bà T không đồng ý vì hiện nay cụ X đã già yếu nên việc chia di sản là không cần thiết, ngoài ra bà T không đồng ý vì cho rằng đây là tài sản của cụ B (ông nội) để lại cho hai cháu (Q, V1).
* Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (cháu Q, cháu V1) là bà T trình bày:
Nay cụ X khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế và yêu cầu chia tài sản chung, các cháu Q, V1 không đồng ý vì hiện nay cụ X đã già yếu nên việc chia di sản là không cần thiết, ngoài ra bà T không đồng ý vì cho rằng đây là tài sản của cụ B (ông nội) để lại cho hai cháu (Q, V1).
Tại Bản án số 83/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Võ Thị Mai X đối với bị đơn bà Trần Thị Minh T về việc tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp tài sản chung.
- Về tài sản chung và di sản:
- Xác định phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 15.893,4m² thuộc thửa 1601, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương là tài sản chung của cụ Nguyễn Văn B và cụ Võ Thị Mai X. Trong đó, cụ X là 7.946,7m² gồm: 100m² đất ở đô thị và 7.846,7m² đất trồng cây lâu năm;
5
- Xác định phần đất có diện tích 7.946,7m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1601, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Văn B.
- Phân chia cụ thể như sau:
- Chia cho cụ Võ Thị Mai X được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích: 11.920,05m² (trong đó: 11.106,95m² đất cây lâu năm, 100m² đất ở đô thị, 713,1m²đất cây lâu năm thuộc hành lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa số 1601, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu C trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm:
- + 01 căn nhà cấp 4 có kết cấu: tường gạch xây tô, mái tole, nền gạch men, tường ốp gạch men có diện tích: 197m² (ký hiệu g trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án);
- + 01 mái che có kết cấu: cột sắt, mái tole, nền xi măng; diện tích: 75m² (ký hiệu MC trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
- + 404 cây cao su.
* Phần đất cụ X được chia có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất 431;
- + Hướng Tây giáp thửa đất cháu Nguyễn Trần Quang V1 được chia;
- + Hướng Nam giáp thửa đất 995;
- + Hướng Bắc giáp đường Đ (đường B).
- Chia cho cháu Nguyễn Trần Minh Q được quản lý, sử dụng 1.986,67m² (trong đó: 1.861,17m² đất trồng cây lâu năm, 125,5m² thuộc hành lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa đất số 1601, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu:
- + 120 cây cao su gắn liền với đất được chia;
- + 33.776.875 đồng giá trị nhà ở, mái che.
* Phần đất cháu Q được chia có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất cháu Nguyễn Trần Quang V1 được chia;
- + Hướng Tây giáp thửa đất 434;
- + Hướng Nam giáp thửa đất 1183;
- + Hướng Bắc giáp đường Đ (đường B).
- Chia cho cháu Nguyễn Trần Quang V1 được quản lý, sử dụng 1.986,67 m² (trong đó: 1.861,17m² đất trồng cây lâu năm, 125,5m² thuộc hành
- Chia cho cụ Võ Thị Mai X được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích: 11.920,05m² (trong đó: 11.106,95m² đất cây lâu năm, 100m² đất ở đô thị, 713,1m²đất cây lâu năm thuộc hành lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa số 1601, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu C trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm:
6
lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa đất số 1601, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu:
- + 120 cây cao su gắn liền với đất được chia;
- + 33.776.875 đồng giá trị nhà ở, mái che.
* Phần đất cháu V1 được chia có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất cụ Võ Thị Mai X được chia;
- + Hướng Tây giáp thửa đất cháu Nguyễn Trần Minh Q được chia.
- + Hướng Nam giáp thửa đất 1183;
- + Hướng Bắc giáp đường Đ (đường B).
- Trách nhiệm thanh toán:
- Cụ X có trách nhiệm thanh toán phần giá trị căn nhà cấp 4, mái che cho cháu Nguyễn Trần Quang V1 và cháu Nguyễn Trần Minh Q tổng số tiền 67.553.750 đồng, tương đương mỗi cháu là: 33.776.875 đồng.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm chậm thi hành án, chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 10/8/2023, bị đơn bà Trần Thị Minh T có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét phân chia công sức cho ông G và bà T; sửa một phần bản án sơ thẩm: xem xét, phân chia di sản cho ông G và bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đại diện bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết có căn cứ và đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày tranh tụng của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về hướng giải quyết vụ án;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
7
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản và tranh chấp tài sản chung”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đơn kháng cáo của bị đơn bà T được thực hiện trong thời hạn luật định và đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo nên kháng cáo là hợp lệ.
[2] Về nội dung khởi kiện: Theo đơn khởi kiện ban đầu, nguyên đơn cụ Võ Thị Mai X khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung và chia di sản thừa kế đối với nhiều thửa đất, tài sản gắn liền đất thuộc quyền sử dụng, sở hữu của cụ Nguyễn Văn B và cụ Võ Thị Mai X. Tuy nhiên, sau đó nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế phần đất và tài sản gắn liền đất thuộc thửa đất số 433 (cập nhật biến động ngày 17/01/2012 là thửa 1601), tờ bản đồ số 52, toạ lạc tại phường M, thị xã B có diện tích đo đạc thực tế là 15.893,4m², đã được UBND huyện B (nay là thị xã B) cấp GCNQSDĐ số AB952121, số vào sổ cấp GCN: H00310, ngày 05/5/2005 cho hộ ông Nguyễn Văn B. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ giải quyết chia tài sản chung, chia di sản thừa kế đối với thửa đất số 1601, tờ bản đồ số 52, không giải quyết các thửa đất khác của cụ X và cụ B là phù hợp phạm vi xét xử của Tòa án.
Về phía bị đơn bà T không đồng ý chia thừa kế vì cho rằng bà X tuổi đã cao, sức khỏe yếu, chia tài sản không ai quản lý.
[3] Về hàng, diện thừa kế, các đương sự đều thống nhất cụ X và cụ B là vợ chồng có 01 con là Nguyễn Quang G (đã chết năm 2012), ông G có vợ là bà Trần Thị Minh T (kết hôn năm 2005); ông G và bà T có 02 con chung là Nguyễn Trần Minh Q và Nguyễn Trần Quang V1. Cha, mẹ của cụ X và cụ B đều đã chết và không có người thừa kế nào khác. Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ B là cụ X và người thừa kế thế vị của ông G bao gồm cháu Q và cháu V1 là đúng quy định các Điều 650, 651 và 652 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Xét kháng cáo của bà T nhận thấy:
[4.1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định, về thửa đất số 1601 (trước đây là thửa 433), tờ bản đồ số 52, diện tích 16.361m² được cấp cho hộ ông Nguyễn Văn B. Theo hồ sơ cấp GCNQSDĐ, tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất ngày 23/12/2004 (có xác nhận của UBND thị trấn M) thể hiện nguồn gốc đất khai phá năm 1979, khi đó ông G mới 03 tuổi nên xác định thửa đất trên là tài sản của cụ B và cụ X. Về tài sản gắn liền với thửa đất số 1601: 01 căn nhà cấp 4 do cụ X, cụ B xây năm 2012-2013, cụ X hiện đang ở; 01 mái che và 644 cây cao su trồng năm 2005.
Đơn kháng cáo của bà T chỉ kháng cáo yêu cầu xem xét, phân chia công sức cho bà T, không kháng cáo về những nội dung trên. Tại phiên tòa phúc
8
thẩm, người đại diện của bị đơn trình bày rằng thực tế bà T không có tranh chấp gì về tài sản của cụ X, vì tài sản là quyền sử dụng thửa đất 1601 và tài sản gắn liền đất là của cụ B, cụ X, nhưng do cụ X khi khởi kiện cho rằng bà T không quan tâm, chăm sóc cha mẹ chồng là không đúng, không phù hợp đạo đức nên bà T mới không đồng ý yêu cầu khởi kiện của cụ X.
[4.2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà T thấy rằng: về mặt đạo đức, Tòa án không xem xét giải quyết. Về mặt pháp luật, quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết bà T có đơn phản tố yêu cầu Tòa án công nhận và phân chia tài sản riêng cho ông Nguyễn Quang G trong khối tài sản trị giá 300.000.000 đồng; tính công sức đóng góp của bà T trong việc chăm sóc, giữ gìn, trồng cây là 20% trên giá trị cây tương đương 61.695.000 đồng. Tòa án nhân dân thị xã P đã ban hành thông báo nộp tạm ứng án phí đối với yêu cầu phản tố nhưng bà T không nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu phản tố của mình nên bị trả lại đơn phản tố là phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xem xét, đánh giá công sức của bà T trong quá trình tạo lập và gìn giữ tài sản và thấy rằng: về đất cụ B, cụ X khai phá năm 1979, khi đó ông G mới 3 tuổi nên là tài sản chung của vợ chồng cụ B, cụ X. Về 100m² đất ở là do cụ X là người chuyển mục đích sang đất ở năm 2013, hoàn thành nghĩa vụ đóng tiền năm 2019, không phải do bà T thực hiện. Từ năm 2013 thì bà T cũng ở riêng không còn ở chung với cụ X. Về tài sản là căn nhà trên đất là do cụ B, cụ X xây dựng, hiện nay cụ X ở nên không có công sức đóng góp của bà T. Về 644 cây cao su trên đất trồng năm 2005 đến nay, bà T khai “Năm 2004, cụ B, cụ X bỏ vốn mua cây giống, phân tro và mướn công đào lỗ; còn vợ chồng bà trông coi việc trồng và chăm sóc cây. Năm 2012, bắt đầu thu hoạch mủ cao su, bà T trực tiếp cạo mủ từ năm 2012 cho đến năm 2022 thì ngưng, cụ X trả tiền công cho bà T 200.000 đồng/ngày cạo mủ, lượng mủ thu được cụ X bán và sử dụng số tiền này, không chia cho bà T” (thể hiện tại biên bản hòa giải bút lục 342-345). Như vậy, theo lời trình bày của bà T thể hiện bà T cũng có công sức trong việc chăm sóc, khai thác 644 cây cao su này, nhưng công sức này đã được cụ X trả tiền công cho bà T. Do đó, việc bà T yêu cầu thanh toán công sức đóng góp tạo nên giá trị 644 cây cao su trên thửa đất số 1601 là không có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm không tính công sức đóng góp cho bà T là phù hợp với thực tế khách quan.
[5] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: bà T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật do bản án sơ thẩm được giữ nguyên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
9
Áp dụng Điều 5, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39, các Điều 71, 92, 147, 148, 165, khoản 1 Điều 192, Điều 235, 266, 271, 273, 293, khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ Điều 102, Điều 212, Điều 213, Điều 612, Điều 613, Điều 650, khoản 1 Điều 651, Điều 652 và Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP06/01/2016;
Căn cứ Điều 2 của Luật Người cao tuổi năm 2009; Điều 1 của Luật Trẻ em năm 2016;
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Minh T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 83/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã P, tỉnh Bình Dương như sau:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cụ Võ Thị Mai X đối với bị đơn bà Trần Thị Minh T về việc tranh chấp về thừa kế tài sản và tranh chấp tài sản chung.
- Về tài sản chung và di sản:
- Xác định phần đất có diện tích đo đạc thực tế là 15.893,4m² thuộc thửa 1601, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương là tài sản chung của cụ Nguyễn Văn B và cụ Võ Thị Mai X. Trong đó, cụ X là 7.946,7m² gồm: 100m² đất ở đô thị và 7.846,7m² đất trồng cây lâu năm;
- Xác định phần đất có diện tích 7.946,7m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa 1601, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Nguyễn Văn B.
- Phân chia cụ thể như sau:
- Chia cho cụ Võ Thị Mai X được quản lý, sử dụng phần đất có diện tích: 11.920,05m² (trong đó: 11.106,95m² đất cây lâu năm, 100m² đất ở đô thị, 713,1m²đất cây lâu năm thuộc hành lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa số 1601, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu C trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu các tài sản gắn liền với đất gồm:
10
- + 01 căn nhà cấp 4 có kết cấu: tường gạch xây tô, mái tole, nền gạch men, tường ốp gạch men có diện tích: 197m² (ký hiệu g trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án);
- + 01 mái che có kết cấu: cột sắt, mái tole, nền xi măng; diện tích: 75m² (ký hiệu MC trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
- + 404 cây cao su.
* Phần đất cụ X được chia có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất 431;
- + Hướng Tây giáp thửa đất cháu Nguyễn Trần Quang V1 được chia;
- + Hướng Nam giáp thửa đất 995;
- + Hướng Bắc giáp đường Đ (đường B).
- Chia cho cháu Nguyễn Trần Minh Q được quản lý, sử dụng 1.986,67m²(trong đó: 1.861,17m² đất trồng cây lâu năm, 125,5m² thuộc hành lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa đất số 1601, tờ bản đồ số 52 tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu:
- + 120 cây cao su gắn liền với đất được chia;
- + 33.776.875 đồng giá trị nhà ở, mái che.
* Phần đất cháu Q được chia có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất cháu Nguyễn Trần Quang V1 được chia;
- + Hướng Tây giáp thửa đất 434;
- + Hướng Nam giáp thửa đất 1183;
- + Hướng Bắc giáp đường Đ (đường B).
- Chia cho cháu Nguyễn Trần Quang V1 được quản lý, sử dụng 1.986,67 m²(trong đó: 1.861,17m² đất trồng cây lâu năm, 125,5m² thuộc hành lang an toàn đường bộ). Phần đất được chia thuộc thửa đất số 1601, tờ bản đồ số 52, tọa lạc tại khu phố C, phường M, thị xã B, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B trên sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án) và sở hữu:
- + 120 cây cao su gắn liền với đất được chia;
- + 33.776.875 đồng giá trị nhà ở, mái che.
* Phần đất cháu V1 được chia có tứ cận như sau:
- + Hướng Đông giáp thửa đất cụ Võ Thị Mai X được chia;
- + Hướng Tây giáp thửa đất cháu Nguyễn Trần Minh Q được chia.
- + Hướng Nam giáp thửa đất 1183;
11
- + Hướng Bắc giáp đường Đ (đường B).
- Trách nhiệm thanh toán: Cụ Võ Thị Mai X có trách nhiệm thanh toán phần giá trị căn nhà cấp 4, mái che cho cháu Nguyễn Trần Quang V1 và cháu Nguyễn Trần Minh Q tổng số tiền 67.553.750 đồng, tương đương mỗi cháu là: 33.776.875 đồng.
Kể từ ngày án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì còn phải chịu khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Cụ Võ Thị Mai X và cháu Nguyễn Trần Quang V1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- - Cháu Nguyễn Trần Minh Q phải chịu 115.522.367 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Tổng chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá tài sản là 8.736.155 đồng. Cụ Võ Thị Mai X phải chịu 6.552.116 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản đã nộp tại Toà án nhân dân thị xã P (đã thực hiện xong).
Buộc cháu Nguyễn Trần Minh Q phải nộp 1.092.019 đồng, cháu Nguyễn Trần Quang V1 phải nộp 1.092.019 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định, đo đạc, định giá tài sản để hoàn trả lại cho cụ Võ Thị Mai X.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị Minh T phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012200 ngày 05/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã P.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, việc tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Công Lực |
Bản án số 475/2023/TLPT-DS ngày 12/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp thừa kế tài sản, tranh chấp tài sản chung
- Số bản án: 475/2023/TLPT-DS
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản, tranh chấp tài sản chung
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm
