|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH Bản án số: 21/2024/TCDS-ST Ngày 11 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Thanh Dương
- Ông Nguyễn Quốc Đồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Như Bình - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Trọng - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 32/2024/TLST- TCDS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-TCDS ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn vừa là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Việt H và Ngô Khánh N: Chị Phạm Ngọc M, sinh năm 1991
Trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Ngô Thanh L, sinh năm 1944 và bà Ngô Thị T, sinh năm 1940.
Cùng trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
2
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cháu Ngô Việt H, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2013 và cháu Ngô Khánh N, sinh ngày 14 tháng 3 năm 2018.
Cùng trú tại: Tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung của đơn khởi kiện đề ngày 12/3/2024, Bản tự khai cũng như tại phiên tòa, Nguyên đơn chị Phạm Ngọc M trình bày:
Chị và anh Ngô Thanh H1 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q (Nay là Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B), tỉnh Quảng Bình vào năm 2013. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị có mua chiếc xe ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73011487. Nay vì tai nạn giao thông nên chồng chị đột ngột qua đời vào ngày 12/5/2023 và không để lại di chúc. Mặc dù, đã nhiều lần họp gia đình để bàn bạc về việc phân chia di sản thừa kế trên của chồng chị nhưng phía ông L và bà T (Là bố, mẹ đẻ của anh H1) không thống nhất được. Vì vậy, chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia di sản thừa kế do chồng chị để lại theo quy định của pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất của chồng chị gồm có: Chị, bố, mẹ đẻ của chồng chị là ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T; các con đẻ của chị và chồng chị là Ngô Việt H, Ngô Khánh N.
Tại Biên bản lấy lời khai vào ngày 27/6/2024, phía bị đơn ông L, bà T thống nhất trình bày: Ông, bà thừa nhận anh Ngô Thanh H1 là con trai của ông, bà. Chị Phạm Ngọc M và anh Ngô Thanh H1 là vợ chồng hợp pháp. Quá trình chung sống, anh H1 và chị M có 02 con chung là Ngô Việt H, sinh ngày 09/11/2013 và Ngô Khánh N, sinh ngày 14/3/2018. Đồng thời, anh H1, chị M cũng có tài sản chung là 01 chiếc xe ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73011487. Hiện vì tai nạn giao thông nên anh H1 đã chết vào ngày 12/5/2023. Nay, chị M khởi kiện yêu cầu Toà án phân chia khối di sản thừa kế là chiếc xe nói trên theo quy định của pháp luật thì ông, bà cũng đồng ý. Yêu cầu Toà án phân chia theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã nhiều lần triệu tập các bên đương sự để hòa giải nhưng phía bị đơn không có mặt nên vụ án không thể tiến hành hòa giải được.
Quá trình giải quyết vụ án, theo yêu cầu của nguyên đơn, Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đối với tài sản là 01 chiếc xe
3
ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73011487 vào ngày 26/7/2024.
Kết quả xem xét, thẩm định thể hiện: Chiếc xe hiện đã hết đăng kiểm; cặp lốp trước bị mòn không chạy được; đèn pha trước bị vỡ; máy đã làm lại; thùng ben 03 mặt bị mục; các dè chắn bùn đã bị hỏng; bửng sau của thùng ben xe bị méo; chiếc xe hiện đang được đỗ tại nhà bố mẹ đẻ của chị M là nhà ông Phạm Quyết T1, tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình.
Kết quả định giá tài sản: Theo hiện trạng thực tế, căn cứ theo giá trị thị trường hiện nay thì chiếc xe nói trên có giá trị còn lại là 95.000.000 đồng.
Tại phiên toà, Nguyên đơn vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về mặt tố tụng, quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; Nguyên đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Riêng bị đơn đã không chấp hành theo sự triệu tập của Tòa án, không có mặt tại các buổi hoà giải và tại phiên tòa xét xử vụ án vào các ngày 26/8/2024 và 11/9/2024 làm vụ án phải kéo dài thời gian giải quyết.
Về nội dung, áp dụng khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 213, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 và khoản 2 Điều 651 Bộ luật Dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xét xử vắng mặt ông Ngô Thanh L, bà Ngô Thị T, cháu Ngô Việt H và cháu Ngô Khánh N
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc M, xác định di sản mà anh Ngô Thanh H1 để lại là: ½ chiếc xe ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73011487 mang tên anh Ngô Thanh H1, tương ứng với 47.500.000 đồng.
- Chị Phạm Ngọc M được hưởng ½ giá trị tài sản trong khối tài sản chung của vợ chồng là 47.500.000 đồng cùng với 1/5 kỷ phần di sản thừa kế anh Ngô
4
Thanh H1 để lại là 9.500.000 đồng và 2/5 phần di sản thừa kế mà hai con Ngô Việt H và Ngô Khánh N được hưởng là 19.000.000 đồng, (Do hai con chưa đủ 16 tuổi nên giao cho chị Phạm Ngọc M là người đại diện theo pháp luật quản lý).
- Giao 01 chiếc xe ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73011487 mang tên anh Ngô Thanh H1 cho chị Phạm Ngọc M tiếp tục quản lý. Chị M có trách nhiệm giao lại cho ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T mỗi người 1/5 kỷ phần di sản thừa kế mà anh Ngô Thanh H1 để lại là 9.500.000 đồng.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Ngọc M tự chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm trên phần giá trị di sản thừa kế mà hai cháu Ngô Việt H và Ngô Khánh N được hưởng (Hai cháu thuộc đối tượng trẻ em dưới 16 tuổi, người đại điện hợp pháp đã có đơn xin miễn án phí cho hai cháu). Nguyên đơn và bị đơn (Ông L và bà T là đối tượng người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí) phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết chia di sản thừa kế theo pháp luật. Vì vậy, xác định đây là quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Bị đơn ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố T, phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án của Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T tại phiên tòa:
Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa hai lần nhưng ông L và bà T vẫn vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng ông L, bà T.
Tại phiên toà, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là cháu Ngô Việt H, sinh ngày 09/11/2013 và cháu Ngô Khánh N, sinh ngày
5
14/3/2018 đều vắng mặt nhưng có người đại diện đồng thời là nguyên đơn chị Phạm Ngọc M tham gia phiên toà. Vì vậy, căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vụ án vắng mặt cháu H và cháu N.
[1.4] Về thời hiệu thừa kế:
Anh Ngô Thanh H1 chết vào ngày 12/5/2023. Căn cứ theo Điều 623 Bộ luật Dân sự, vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
[2] Về nội dung:
[2.1] Thời điểm mở thừa kế của anh Ngô Thanh H1:
Căn cứ bản sao Trích lục khai tử do Ủy ban nhân dân phường Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình cấp số 136/TLKT-BS ngày 19/5/2023 cho anh Ngô Thanh H1, sinh năm 1990 chết ngày 12/5/2023. Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự thì thời điểm mở thừa kế của anh H1 là vào ngày 12/5/2023.
[2.2] Hàng thừa kế:
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ và ý kiến trình bày của các bên đương sự, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 650 và điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự, xác định những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Ngô Thanh H1 bao gồm: Chị Phạm Ngọc M (Vợ anh H1), ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T (Bố, mẹ đẻ của anh H1), các cháu Ngô Việt H, Ngô Khánh N (Con đẻ của anh H1).
[2.3] Di sản thừa kế:
Xét thấy tài sản chiếc xe ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40, được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, nên căn cứ theo Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 213 Bộ luật Dân sự, xác định đây là tài sản chung của vợ chồng. Do đó, chị M và anh H1 mỗi người được sở hữu ½ giá trị tài sản. Theo đó, căn cứ vào kết quả định giá tài sản thì giá trị tài sản mà chị M và anh H1 được quyền sở hữu là 95.000.000 đồng : 2 = 47.500.000 đồng. Như vậy xác định giá trị tài sản anh H1 để lại được chia thừa kế theo pháp luật cho các đồng thừa kế là 47.500.000 đồng.
[2.4] Kỷ phần thừa kế:
Căn cứ Điều 651 Bộ luật Dân sự, những người cùng hàng thừa kế được hưởng phần di sản bằng nhau. Cụ thể 47.500.000 đồng : 5 = 9.500.000 đồng.
Xét nguyện vọng của nguyên đơn thấy rằng: Chiếc xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng anh H1 và chị M, chị M đương nhiên được quyền sở hữu ½ giá trị tài sản như đã phân tích ở [2.2]. Hiện anh H1 đã chết, chị M là người đang trực tiếp quản lý tài sản, vì vậy xét nguyện vọng của chị M muốn được tiếp tục quản lý tài sản là hàn toàn phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận, đồng thời buộc chị M
6
phải có trách nhiệm giao cho các đồng thừa kế số tiền mà họ được hưởng. Cụ thể giao cho ông L và bà T2 mỗi người 9.500.000 đồng. Riêng kỷ phần thừa kế của hai cháu H và N, do hai cháu còn nhỏ, dưới 16 tuổi và hiện đang do chị M là mẹ đẻ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên cần giao toàn bộ số tiền mà hai cháu được hưởng là 19.000.000 đồng cho chị M quản lý là phù hợp.
[3] Về chi phí tố tụng:
Trong giai đoạn tố tụng, chị M đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền 2.000.000 đồng. Quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản đã chi phí hết.
Chị M tự nguyện chịu toàn bộ, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[4] Về án phí dân sự có giá ngạch:
Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên tổng giá trị tải sản được hưởng theo quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.
Ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T thuộc đối tượng người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét miễn án phí cho ông L và bà T.
Số tiền án phí mà các đương sự phải chịu cụ thể như sau:
Ông Ngô Thanh L phải chịu tiền án phí trên giá trị tài sản thừa kế được hưởng là 9.500.000 x 5% = 475.000 đồng.
Bà Ngô Thị T phải chịu tiền án phí trên giá trị tài sản thừa kế được hưởng là 9.500.000 x 5% = 475.000 đồng.
Chị Phạm Ngọc M phải chịu tiền án phí trên tổng giá trị tài sản được hưởng, bao gồm: giá trị tài sản thừa kế là 9.500.000 đồng + ½ giá trị tài sản trong khối tài sản chung là 47.500.000 = 57.000.000 đồng x 5% = 2.850.000 đồng, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng mà chị M đã nộp trước đây. Số tiền án phí chị M còn phải nộp tiếp là 350.000 đồng.
Đối với hai cháu Ngô Việt H và Ngô Khánh N, do hai cháu thuộc đối tượng trẻ em (Dưới 16 tuổi), chị Phạm Ngọc M (Mẹ đẻ) là người đại diện hợp pháp đã có Đơn xin miễn án phí cho hai cháu, nên theo quy định tại tiết 1 điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn án phí đối với hai cháu H và N.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
7
Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 2 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 29 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 213, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 Điều 651 và khoản 2 Điều 651 Bộ luật dân sự; tiết 1 điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Xét xử vụ án vắng mặt ông Ngô Thanh L, bà Ngô Thị T, cháu Ngô Việt H và cháu Ngô Khánh N.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Ngọc M.
- Giao 01 chiếc xe ben (Xe tải) màu xanh, nhãn hiệu TMT, có biển kiểm soát 73C - 139.40 theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 73011487 mang tên anh Ngô Thanh H1 cho chị Phạm Ngọc M quản lý và sở hữu, tổng trị giá 95.000.000 đồng (Chín mươi lăm triệu đồng).
Buộc chị Phạm Ngọc M phải giao lại cho các đồng thừa kế số tiền tương ứng với phần giá trị tài sản thừa kế mà họ được hưởng. Cụ thể:
- Giao cho ông Ngô Thanh L, bà Ngô Thị T mỗi người 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng).
- Giao cho hai cháu Ngô Việt H và Ngô Khánh N mỗi cháu 9.500.000 đồng (Chín triệu năm trăm nghìn đồng). Tuy nhiên do hai cháu hiện đang dưới 16 tuổi, là con đẻ của chị M, do chị Phạm Ngọc M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên số tiền này để cho chị Phạm Ngọc M trực tiếp quản lý.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về chi phí tố tụng:
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Phạm Ngọc M tự chịu toàn bộ, số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
8
- Về án phí:
Buộc chị Phạm Ngọc M phải chịu 2.850.000 đồng, nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) mà chị đã nộp trước đây tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003336, ngày 10/5/2024. Số tiền án phí chị Phạm Ngọc M còn phải nộp tiếp là 350.000 đồng (Ba trăm năm mươi nghìn đồng).
Buộc ông Ngô Thanh L và bà Ngô Thị T mỗi người phải nộp 475.000 đồng (Bốn trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho hai cháu Ngô Việt H và Ngô Khánh N.
- Án xử sơ thẩm, nguyên đơn (Đồng thời là người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án) có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Tình |
9
Bản án số 21/2024/TCDS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp về thừa kế tài sản
- Số bản án: 21/2024/TCDS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc Mai - Ngô Thanh Lâm, Ngô Thị Thoả
