TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/DS-ST
Ngày 11 - 7 - 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Hồng.
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Thanh Liêm.
Bà Nguyễn Thị Kim Cúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Như Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân thành phố S xét xử sơ thẩm công khai vụ án tranh chấp dân sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST – DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Trịnh Đức C, sinh năm 1975. Địa chỉ: Tổ A, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La.
- Bị đơn: Nguyễn Huy T, sinh năm 1976. Địa chỉ: Bản P, xã C, thành phố S, tỉnh Sơn La.
Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2024 và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn ông Trịnh Đức C trình bày:
Ngày 20/5/2016 ông Trịnh Đức C cho ông Nguyễn Huy T vay số tiền 500.000.000,₫ (năm trăm triệu đồng) với lãi suất thoả thuận 3%/tháng, hẹn đến ngày 30/12/2021 phải thanh toán hết. Ông T đã nhận đủ tiền, ký tên và điểm chỉ nhưng đến nay vẫn không trả tiền cho ông C như thoả thuận. Ông C khởi kiện yêu cầu ông T phải trả toàn bộ số nợ gốc và lãi suất. Do khi thoả thuận về lãi suất cao hơn lãi suất do pháp luật quy định nên ông C tự nguyện điều chỉnh lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015: cụ thể:
+ Lãi trong hạn: số tiền gốc 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng) thời gian tính lãi từ 01/9/2019 đến 30/12/2021 là 28 tháng, lãi suất 20%/1 năm = 233.240.000,đ (hai trăm ba mươi ba triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng).
+ Lãi quá hạn: gốc 500.000.000,₫ (năm trăm triệu đồng) thời gian tính lãi từ 01/01/2022 đến ngày 23/4/2024 là 27 tháng 23 ngày, lãi suất 30%/năm thành tiền 347.083.000,đ (ba trăm bốn mươi bảy triệu không trăm tám mươi ba nghìn đồng).
Tổng cộng số tiền lãi là: 580.323.000,đ (năm trăm tám mươi triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) thời gian từ 20/5/2016 đến 30/8/2019 (không tính lãi).
Ngày 04/02/2021 ông T đã trả 100.000.000,đ () một trăm triệu đồng tiền lãi.
Ngày 06/02/2024 ông T trả 20.000.000,đ (hai mươi triệu đồng) tiền lãi.
Số lãi còn phải trả 460.323.000,đ (bốn trăm sáu mươi triệu đồng).
Ông C đề nghị Toà án giải quyết buộc ông Nguyễn Huy T phải trả tổng số tiền gốc và lãi là 960.323.000,đ (chín trăm sáu mươi triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng) và lãi suất phát sinh theo mức 10%/năm kể từ ngày 24/4/2024 cho đến khi xét xử sơ thẩm.
* Trong bản tự khai đề ngày 20/5/2024 và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Huy T trình bày:
Tháng 3/2009 ông có vay của ông Trịnh Đức C số tiền 100.000.000,đ (một trăm triệu đồng) với lãi suất 2.000đ/ngày, ngày 18 hàng tháng ông C vào nhà ông T lấy lãi. Đến tháng 11/2012 ông T vay thêm 100.000.000,đ (một trăm triệu đồng) cũng với lãi suất 2.000đ/ngày và ông C cũng vào lấy tiền lãi vào ngày 18 hàng tháng với số tiền lãi 12 triệu đồng/tháng. Tháng 10/2014 ông T vay thêm 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), ông C vẫn lấy lãi vào ngày 18 hàng tháng, tiền lãi là 18.000.000,đ (mười tám triệu đồng). Tháng 5/2016 vay thêm 200.000.000đ (hai trăm triệu đồng). Hai bên thống nhất giảm lãi xuống còn 1.000đ/ngày nên từ tháng 5/2016 số tiền lãi phải trả cho số tiền gốc 500.000.000₫ (năm trăm triệu đồng) là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)/tháng.
Tháng 11/2020 do ông T làm ăn thua lỗ không đủ điều kiện trả nợ cho ông C, nên đề nghị ông C cho thời gian làm ăn được sẽ trả dần. Số tiền lãi ông T đã trả cho ông C là 1.728.000.000,đ (một tỷ bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng). Ngày 04/02/2021 ông T đã trả qua anh họ của ông C là ông Trịnh Đức S 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Do vậy tính đến thời điểm hiện tại ông T đã trả cho ông C 100.000.000,₫ (một trăm triệu đồng) tiền gốc và 1.728.000.000,đ (một tỷ bảy trăm hai mươi tám nghìn đồng) tiền lãi, số tiền còn lại xin thoả thuận khi nào làm ăn được sẽ trả dần, vì đã trả cho ông C quá nhiều tiền lãi, việc trả lãi cho ông C không ký vào giấy bất cứ giấy từ nào.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ý kiến của các đương sự như sau:
Nguyên đơn ông Trịnh Đức C sửa đổi nội dụng đơn khởi kiện sau khi đã đối trừ với phần tiền lãi vượt quá (không được pháp luật công nhận) mà ông Nguyễn Huy T đã trả cho ông C, ông Trịnh Đức C đề nghị ông Nguyễn Huy T phải trả tiền nợ gốc là 439.623.287,đ (bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng) ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Huy T không nhất trí với yêu cầu của nguyên đơn vì cho rằng đã trả số tiền vượt quá số nợ gốc ban đầu, ông T chỉ nhất trí thanh toán tiền nợ gốc cho ông C là 200.000.000,đ (hai trăm triệu đồng).
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh Sơn La phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng; Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩmphán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử tại phiên tòa;
Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Huy T phải có trách nhiệm trả nợ gốc 439.623.287,đ (bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi bảy đồng). Ông Nguyễn Huy T phải tiếp tục trả tiền lãi theo quy định của pháp luật.
Về án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và đã được xem xét thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La và đương sự có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thẩm quyền, tố tụng: Vụ án theo đơn khởi kiện của ông Trịnh Đức C đối với ông Nguyễn Huy T cư trú tại thành phố S. Xét các bên trong quan hệ giao kết hợp đồng này là các cá nhân với nhau không có đăng ký kinh doanh nên xác định đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng dân sự về việc vay tài sản, được Tòa án nhân dân thành phố Sơn La thụ lý và giải quyết là theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[2] Về phạm vi khởi kiện: Tại đơn khởi kiện ông C yêu cầu ông T trả số vay gốc là 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng) và lãi suất là 460.323.000,đ (bốn trăm sáu mươi triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng). Tuy nhiên số tiền lãi bị đơn đã trả cho nguyên được được tính với lãi suất 3%/tháng là khoản tiền lãi vượt quá quy định của Bộ luật dân sự, sau khi tính toán lại tiền lãi theo quy định của nhà nước nên ông C tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện. Xét việc sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện và không vượt quá so với yêu cầu khởi kiện ban đầu nên HĐXX chấp nhận.
[3] Về pháp luật áp dụng và thời hiệu khởi kiện:
Hợp đồng vay nợ giữa nguyên đơn và bị đơn được giao kết ngày 20/5/2016 là thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành nên áp các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 để xem xét tính hợp pháp và các vấn đề khác có liên quan khi thực hiện của giao dịch dân sự này là đúng theo quy định tại khổ 2 điểm a khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015. Đối chiếu với quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 về giao dịch dân sự và hợp đồng tại các Điều 122, 124, 388, 389, 401, 402. Xét về nội dung và hình thức của hợp đồng khi giao kết đảm bảo đúng quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội, việc giao kết giữa các bên là tự nguyện và các bên khi giao kết hợp đồng đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự do đó các bên phải có nghĩa vụ thực hiện.
Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự đã thừa nhận trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy đây là hợp đồng vay có thời hạn, xác lập giao dịch vay từ ngày 20/5/2016 đến hết ngày 30/12/2021, tức là đến hết ngày 30/12/2021 ông T phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền vay nợ gốc cho ông C, mức lãi suất theo thỏa thuận là 3%/tháng nhưng không thỏa thuận thời gian trả lãi cụ thể. Theo quy định tại Điều 429 và điểm b khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự 2015 thì thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết lợi ích của mình bị xâm hại; như vậy, đối chiếu với quy định này thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
Như vậy, đối với yêu cầu khởi kiện đòi lại số tiền vay nợ gốc 500.000.000,₫ (năm trăm triệu đồng) và lãi phát sinh của ông C đối với ông T là còn thời hiệu khởi kiện.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Về nội dung tranh chấp:
Ông Trịnh Đức C khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Huy T phải trả lại tổng số tiền vay nợ gốc là 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng) và tiền lãi trong hạn chưa trả và lãi chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập xác định được: ngày 20/5/20216 giữa ông Nguyễn Huy T và ông Trịnh Đức C đã giao kết hợp đồng vay tài sản với tổng số tiền là 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng) với mức lãi suất thỏa thuận là 3%/tháng. Ông Trịnh Đức C đã thực hiện việc giao tài sản cho vay là số tiền 500.000.000,₫ (năm trăm triệu đồng) cho ông Nguyễn Huy T và thừa nhận từ ngày 20/5/2016 đến hết ngày 30/8/2019 ông T đã trả được tiền lãi cho ông C theo hợp đồng đã thỏa thuận (tức là 3%/ tháng), từ ngày 01/9/2019 ông T đã không thực hiện thanh toán lãi cho ông C theo thỏa thuận nên phát sinh tranh chấp.
Ông T thừa nhận có vay và nhận từ ông C số tiền 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng) đồng thời cũng thừa nhận chữ ký tại giấy vay nợ là đúng và đã trả được số tiền lãi theo bảng kê kèm theo bản tự khai nhưng ông C không thừa nhận số tiền đã trả lãi này, ngoài lời khai ra thì ông T không cung cấp được các chứng cứ, tài liệu nào chứng minh cho lời khai của mình nên lời khai của ông T là không có căn cứ chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, lời khai có trong hồ sơ vụ án đã được các bên thừa nhận và trùng khớp trong quá trình giải quyết vụ án để làm căn cứ giải quyết là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật dân sự 2015 “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định được ông T có vay nợ ông C số tiền là 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng) và đã trả một phần tiền lãi là sự việc có thật, do vậy làm phát sinh nghĩa vụ phải trả nợ của ông T đối với ông C theo như thỏa thuận đã được giao kết trong hợp đồng vay nợ.
Tuy ông C không đề nghị xem xét phần lãi tính từ ngày 20/5/2016 đến hết ngày 30/8/2019 là 03 năm 03 tháng 10 ngày = 39 tháng 10 ngày là do các bên đương sự đã áp dụng mức lãi suất 3% là vi phạm theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005, các bên đương sự thừa nhận khoảng thời gian này đã trả lãi đầy đủ nên xác định được số tiền này ông T đã thanh toán cho ông C là 590.000.000,₫ (năm trăm chín mươi triệu đồng) tiền lãi, nên HĐXX cần phải tính lại cách thanh toán lãi theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 là tiền lãi trong hạn không quá 150% lãi suất của Ngân hàng N công bố tại thời điểm cho vay, tức là không quá 150% của mức lãi suất 9%/năm = 13,5%/ năm. Bên cạnh đó, ông C cũng thừa nhận ông T đã trả được thêm 120.000.000,đ (một trăm hai mươi triệu đồng) vào các ngày 04/02/2021 và 06/02/2024. Như vậy, xác định được ông T đã thanh toán được cho ông C tổng số tiền lãi trong toàn bộ quá trình vay nợ là: 710.000.000đ (bảy trăm mười triệu đồng).
[4.2] Về pháp luật áp dụng nội dung
Như đã phân tích đã nêu tại mục [2] và mục [3.1] HĐXX thấy rằng vì Hợp đồng được giao kết tại thời điểm của Bộ luật Dân sự 2005 đang có hiệu lực thi hành do vậy cần áp dụng cách tính lãi trong hạn và quá hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 476 và khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005. HĐXX tính lại số tiền lãi phải thanh toán giữa các đương sự cụ thể như sau:
a) Tính từ ngày 20/5/2016 đến hết ngày 30/12/2021 sẽ được áp dụng mức lãi suất trong hạn là: (9%/ năm x 150%) x 500.000.000,đ x 05 năm 07 tháng 10 ngày = 379.109.589,đ (ba trăm bảy mươi chín triệu một trăm linh chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng).
b) Tính từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 23/4/2024 sẽ được áp dụng bao gồm mức lãi suất quá hạn và lãi trên số tiền vay nợ gốc là: [(150% x 9%/năm) + 9%/ năm (lãi suất cơ bản của N1)] x 500.000.000₫ x 02 năm 3 tháng 22 ngày = 259.828.767,₫ (hai trăm năm mươi chín triệu tám trăm hai mươi tám nghìn bảy trăm bảy mươi sáu đồng).
c) Tính từ ngày 24/4/2024 đến thời điểm xét xử ông C có đề nghị mức lãi suất là 10%/năm, xét thấy mức đề nghị áp dụng lãi suất này thấp hơn mức lãi suất được quy định tại khoản khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005 nên HĐXX chấp nhận mức lãi suất này và số tiền lãi từ ngày 24/4/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 11/7/2024 bị đơn phải thanh toán là: 10.684.931,đ (mười triệu sáu trăm tám mươi tư nghìn chín trăm ba mươi mốt đồng).
Tổng số tiền lãi bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn kể từ khi vay cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm là 649.623.278,đ (sáu trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm bảy mươi tám đồng).
* Thực tế bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn tổng số tiền lãi là 710.000.000,₫ (bảy trăm mười triệu đồng) nhưng chỉ phải thanh toán là 649.623.287, đ (sáu trăm bốn mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng) nên số tiền trả lãi thừa là 60.376.713đ (sáu mươi triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn bảy trăm mười ba đồng) sẽ được trừ vào số tiền vay nợ gốc 500.000.000,đ (năm trăm triệu đồng). Do đó, bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền vay nợ gốc là 439.623.287,đ (bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông T vẫn tiếp tục phải trả cho ông C số tiền lãi phát sinh tương ứng với số dư nợ gốc chưa thanh toán là 439.623.287,đ (bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng) mức lãi suất theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số dư nợ gốc tương ứng.
Từ các căn cứ nêu trên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Đức C đối với ông Nguyễn Huy T.
[5] Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Huy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 476 và khoản 5 Điều 474 Bộ luật Dân sự 2005; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 3 Điều 24, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trịnh Đức C.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Buộc ông Nguyễn Huy T phải trả có ông Trịnh Đức C tổng số tiền gốc 439.623.287,đ (bốn trăm ba mươi chín triệu sáu trăm hai mươi ba nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng)
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án hợp pháp, cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án, mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nợ trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Buộc ông Nguyễn Huy T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 21.584.900,₫ (hai mươi mốt triệu năm trăm tám mươi tư nghìn chín trăm đồng).
Trả lại cho ông Trịnh Đức C 20.405.000,đ (hai mươi triệu bốn trăm linh năm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001518, ngày 26/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 11/7/2024.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Bích Hồng |
7
Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 21/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Đức Công - Nguyễn Huy Trung
