|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HSST
Ngày: 11/01/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh- Cán bộ hưu trí
Ông Trần Văn Tam- Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 802/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 786/2023/QĐXXST-HS ngày 21/12/2023; Thông báo dời lịch số 08/ TB-TA ngày 03/01/2024 đối với các bị cáo:
-
Đỗ Mạnh H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 22/06/1993; Tại Thái Bình; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Chổ ở hiện nay: 102/46/17, tổ B, khu phố E, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T, sinh năm: 1963 và bà Phạm Thị L, sinh năm: 1968; Có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm: 1995; Có 02 con lớn sinh năm: 2019, nhỏ sinh năm: 2021
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/09/2023- 08/09/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 15/LCDKNCT ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
-
Lê Văn T1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 17/01/1988, tại Thanh Hoá; Nơi đăng ký thường trú: 833, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chổ ở hiện nay: 833, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T2, sinh năm: 1963 và bà Lê Thị P, sinh năm: 1962; Có vợ là Trần Thị Mỹ T3, sinh năm: 1989; Có 02 con lớn sinh năm: 2012; nhỏ sinh năm: 2017
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/09/2023- 08/09/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 16/LCDKNCT ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
-
Phạm Văn H1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 11/06/1991, tại Đắc lăk; Nơi đăng ký thường trú: Thôn B, xã X, huyện E, tỉnh Đắc lắc; Chổ ở hiện nay: 363/3, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn d, sinh năm: 1962 và bà Trần Thị T4, sinh năm: 1967; Có vợ là Bùi Thị Hồng N, sinh năm: 2002; Có 01 con sinh năm: 2023;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/09/2023- 08/09/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 17/LCDKNCT ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
-
Nguyễn Tấn P1, Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 09/03/1995, tại Đắc lăk; Nơi đăng ký thường trú: tổ G, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Chổ ở hiện nay: tổ G, khu phố T, phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai ; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Tấn K, sinh năm: 1947 và bà Phan Thị T6, sinh năm: 1953; Có vợ là Lo Thị K1, sinh năm: 1997; Có 01 con sinh năm: 2023;
Tiền án: không
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/09/2023- 08/09/2023. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú theo lệnh số 19/LCDKNCT ngày 08/01/2024 của Toà án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Bị hại: Công ty TNHH I
Địa chỉ: Lô B, đường A, khu Công nghiệp A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai;
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Trọng B- Trưởng phòng nhân sự
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Mạnh H, Lê Văn T1 và Phạm Văn H1 có quan hệ quen biết nhau do đều là công nhân cùng làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn I ở địa chỉ Lô B, đường A, Khu công nghiệp A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Nguyễn Tấn P1 là nhân viên của Công ty V1 thường xuyên đến Công ty I để chở hàng theo đề nghị của Công ty I nên quen biết H, T1 và H1.
Khoảng cuối tháng 8/2023, để có tiền tiêu xài, Đỗ Mạnh H, Lê Văn T1, Phạm Văn H1 và Nguyễn Tấn P1 bàn bạc cùng nhau tìm cách lấy trộm nhôm phế liệu của Công ty I mang ra ngoài bán lấy tiền chia nhau tiêu xài.
Để thực hiện vụ trộm tài sản, khoảng 08 giờ 30 ngày 27 tháng 8 năm 2023, Đỗ Mạnh H sử dụng điện thoại di động hiệu Samsung Note 10 gọi điện cho Lê Văn T1 hỏi trong kho của Công ty I có mặt hàng nào có thể lấy trộm bán được không thì được T1 cung cấp thông tin là có 03 cuộn nhôm thuộc loại hàng thải của công ty. Tiếp đó, H gọi điện thoại kêu Nguyễn Tấn P1 đem xe ô tô tải biển số 60H-055.91 (thuộc sở hữu của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên V1) chạy vào trong công ty I để lấy trộm 03 cuộn nhôm mang ra ngoài bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, H gọi điện thoại cho Phạm Văn H1 thông báo việc P1 sẽ điều khiển xe đến kho của công ty để chở hàng trộm cắp. Khi P1 điều khiển xe ô tô tới thì H1 lái xe nâng đưa 03 cuộn nhôm đưa lên xe ô tô biển số 60H-055.91 của P1 và H1 viết phiếu xuất hàng đưa cho P1 để qua cổng bảo vệ nhằm tránh bị phát hiện.
Sau khi ra khỏi cổng công ty, P1 chở tài sản trộm được đến tiệm thu mua phế liệu của bà Hoàng Thị L1 (sinh năm 1972) ở tổ E, khu phố T, phường P, thành phố B. P1 nói với bà L1 có 03 cuộn nhôm phế liệu công ty T7 cần bán thì bà L1 đồng ý mua với giá 62.000.000₫ (Sáu mươi hai triệu đồng). Bà L1 đã chuyển khoản vào tài khoản của Đỗ Mạnh H theo số tài khoản 700011323326 của ngân hàng S (theo yêu cầu của P1) số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), trả tiền mặt 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho P1 và nợ số tiền 7.000.000₫ (Bảy triệu đồng) hẹn trả sau. Sau đó, bà L1 bán số nhôm trên cho chị Vi Thị G (sinh năm 1993) ở địa chỉ B, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương với giá 68.000.000₫ (Sáu mươi tám triệu đồng). Bà L1 và chị G không biết tài sản do P1 và đồng bọn trộm cắp mà có.
Sau khi xảy ra vụ án, công ty I kiểm tra camera phát hiện việc mất trộm đã mời Nguyễn Tấn P1, Phạm Văn H1 đến làm việc, P1 và H1 đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản.
Đến ngày 31/8/2023, H và T1 đến Đồn Công an khu công nghiệp B1 đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, Công an đồn khu công nghiệp lập hồ sơ giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 thụ lý theo thẩm quyền. Đến ngày 02/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 bắt khẩn cấp đối với H1 và P1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, H, T1, H1 và P1 đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- 1448kg (Một nghìn bốn trăm bốn mươi tám kilogram) nhôm phế liệu. Đây là tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn I. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 đã thu hồi trả lại cho anh Trần Trọng B (sinh năm 1982, ngụ tại địa chỉ số C, tổ A, ấp T, xã H 3, huyện T, tỉnh Đồng Nai) là đại diện theo ủy quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn I;
- 01 xe ô tô tải biển số 60H-055.91 và 01 giấy chứng nhận kiểm định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 đã trả lại cho anh Phạm Văn H2 (sinh năm 1983, ngụ tại địa chỉ số A, tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là đại diện theo pháp luật của Công ty V1;
- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Note 10, số Imei: 358592103325845 của Đỗ Mạnh H; 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, số Imei 357367093292144, gắn sim số 0589171564 của Phạm Văn H1; 01 điện thoại di động hiệu S1 A30, số Imei 354868100959297 của Nguyễn Tấn P1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu xám, số Imei 352049077001296 của Lê Văn T1. Đây là điện thoại các bị can sử dụng vào việc phạm tội;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12Promax, số Imei 355591192110343 của Lê Văn T1 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 đã trả lại cho T1;
- 01 điện thoại di động hiệu S1 S21, số Imei 357267560289831 của Nguyễn Tấn P1 không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 đã trả lại cho P1;
- Số tiền 55.000.000đ (Năm mươi lăm triệu đồng) do Đỗ Mạnh H và Nguyễn Tấn P1 tự nguyện giao nộp để khắc phục bồi thường thiệt hại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B1 đã tạm giữ số tiền trên và trả cho bà Hoàng Thị L1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 467/TCKH-HĐĐG ngày 05/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: “1448 (Một nghìn bốn trăm bốn mươi tám) kg nhôm phế liệu, có giá trị định giá là 43.440.000 đồng (Bốn mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng)”.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, anh Trần Trọng B là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty trách nhiệm hữu hạn I đã nhận lại tài sản và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị L1, chị Vi Thị G đã nhận lại tiền nên không yêu cầu bồi thường.
Đối với bà Hoàng Thị L1 và chị Vi Thị G có hành vi mua 03 cuộn nhôm phế liệu có khối lượng1448kg. Kết quả điều tra xác định bà L1 và chị G không biết tài sản này là do Nguyễn Tấn P1 cùng đồng bọn trộm cắp mà có nên không phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản so người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. (Bút lục: 125 – 128, 141 – 146, 310)
Tại cáo trạng số 09/CT-VKS-HS ngày 15/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B đã truy tố:
Các bị cáo Đỗ Mạnh H, Lê Văn T1, Phạm Văn H1, Nguyễn Tấn P1 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt các bị cáo:
- Đỗ Mạnh H mức hình phạt từ 02 (Hai) năm 06 ( Sáu) tháng – 03 ( Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo
- Lê Văn T1 mức hình phạt từ 02 (Hai) năm – 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
- Phạm Văn H1 mức hình phạt từ 02 (Hai) năm 03 ( Ba) tháng – 02 (Hai) năm 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
- Nguyễn Tấn P1 mức hình phạt từ 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng – 02 (Hai) năm 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B1, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2] Về pháp luật áp dụng và xác định tội danh:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09 giờ 05 ngày 27/8/2023 tại Công ty trách nhiệm hữu hạn I, đường số A, Khu công nghiệp A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Đỗ Mạnh H, Lê Văn T1, Phạm Văn H1 và Nguyễn Tấn P1 có hành vi trộm cắp 1448kg (Một nghìn bốn trăm bốn mươi tám kg) nhôm phế liệu trị giá 43.440.000₫ (Bốn mươi ba triệu bốn trăm bốn mươi nghìn đồng)” của Công ty trách nhiệm hữu hạn I thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.
Từ đó có đủ cơ sở để kết luận:
Hành vi của các bị cáo Đỗ Mạnh H, Lê Văn T1, Phạm Văn H1, Nguyễn Tấn P1 đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bà Hoàng Thị L1 và chị Vi Thị G có hành vi mua 03 cuộn nhôm phế liệu có khối lượng1448kg. Kết quả điều tra xác định bà L1 và chị G không biết tài sản này là do Nguyễn Tấn P1 cùng đồng bọn trộm cắp mà có nên không phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản so người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, xâm phạm đến quyền sỡ hữu tài sản của người khác. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm để răng đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên Tòa hôm nay các bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khắc phục thiệt hại nên các bị cáo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b,i, s khoản 1 khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng có tác dụng giáo dục và răng đe phòng ngừa chung
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của các bị cáo trong vụ án này như sau:
Đỗ Mạnh H là người rủ rê Lê Văn T1, Phạm Văn H1 và Nguyễn Tấn P1 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công ty nên bị cáo H sẽ chịu mức hình phạt cao hơn so với các bị cáo còn lại;
Phạm Văn H1 và Nguyễn Tấn P1 là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên mức hình phạt của 02 bị cáo là ngang nhau; Lê Văn T1 là người chỉ chỗ, giúp sức cho H, H1 biết vị trí tài sản để H1 và P1 trộm cắp tài sản nên mức hình phạt của bị cáo T1 sẽ thấp hơn mức hình phạt của bị cáo H1 và bị cáo P1
[4] Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đặt ra xem xét
Về biện pháp tư pháp:
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Note 10, số Imei: 358592103325845 của Đỗ Mạnh H
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, số Imei 357367093292144, gắn sim số 0589171564 của Phạm Văn H1;
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 A30, số Imei 354868100959297 của Nguyễn Tấn P1;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu xám, số Imei 352049077001296 của Lê Văn T1.
Đây là phương tiện mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung quỹ nhà nước là phù hợp
[5] Về án phí HSST: mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173, điểm s, b, i khoản 1 khoản 2 điều 51, điều 58, điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
1. Tuyên bố các bị cáo Đỗ Mạnh H, Lê Văn T1, Phạm Văn H1, Nguyễn Tấn P1 phạm tội “ Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: bị cáo Đỗ Mạnh H mức hình phạt 02 ( hai) năm 06 ( Sáu ) tháng tù nhưng cho hưởng an treo. Thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
Giao bị cáo Đỗ Mạnh H cho ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn H1 02 ( Hai) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 ( Bốn) 06 ( Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn H1 cho ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P1 02 ( Hai) năm 03 ( Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 ( Bốn) 06 ( Sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Tấn P1 cho ủy ban nhân dân phường P, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 02 ( Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 ( Bốn) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Văn T1 cho ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp:
*Về trách nhiệm dân sự : không đặt ra giải quyết
*Về biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Note 10, số Imei: 358592103325845 của Đỗ Mạnh H
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR, số Imei 357367093292144, gắn sim số 0589171564 của Phạm Văn H1;
- - 01 điện thoại di động hiệu S1 A30, số Imei 354868100959297 của Nguyễn Tấn P1;
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus màu xám, số Imei 352049077001296 của Lê Văn T1.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai
3. Về án phí HSST: áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Thị Mộng Hà |
Bản án số 21/2024/HSST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Mạnh Hải+ DP phạm tội trộm cắp tài sản
