Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

Bản án số: 21/2024/DS-PT

Ngày: 11-01-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.

Vào ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 281/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2023/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 630/2023/QĐ-PT ngày 02 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

1.2. Ông Phạm Phước T, sinh năm 1949 (đã chết).

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T: Ông Phạm Hồng Đ1, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Số E, Khu phố D, Phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

1.3. Ông Phạm Hồng Đ1, sinh năm 1959.

Địa chỉ: Số E, Khu phố D, Phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ, ông Đ1: Ông Đặng Trường C, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Số C đường H, phường E, thành phố T, tỉnh Long An (Giấy ủy quyền ngày 02 tháng 01 năm 2024).

2. Bị đơn: Bà Lê Thị N, sinh năm 1945.

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Lý Thị D, sinh năm 1974.

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1945.

3.2. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1951.

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

3.3. Bà Phạm Thị L1, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

3.4. Bà Dương Thị Lệ H, sinh năm 1962.

3.5. Bà Dương Thị Lệ H1, sinh năm 1958.

3.6. Ông Dương Thành C2, sinh năm 1967.

Cùng địa chỉ: Số D đường T, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.

3.7. Bà Phạm Thị T1, sinh năm 1966.

Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà C1, bà L, bà L1, bà H, bà H1, ông C2, bà T1: Bà Võ Thị Â, sinh năm 1961. Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

3.8. Ông Phạm Văn S, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

3.9. Bà Lê Thị L2, sinh năm 1950.

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

4. Người làm chứng:

4.1. Ông Bùi Văn H2, sinh năm 1961.

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

4.2. Ông Trần Văn V, sinh năm 1956.

Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

4.3. Ông Hồ Văn Đ2, sinh năm 1954.

Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

- Người kháng cáo: Bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1.

(Ông C, bà Â, bà D có mặt; Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 13/8/2018, đơn khởi kiện bổ sung ngày 24/9/2019, 11/9/2022, nguyên đơn bà Phạm Thị Đ trình bày:

Cụ Phạm Văn P (đã chết) có 02 người con là ông Phạm Minh T2 (chết năm 1996) và Phạm Văn T3 (chết năm 1986). Ông T2 có vợ là bà Phan Thị Đ3 (chết năm 1984) và có 07 người con là Phạm Thị A (đã chết 1963), Phạm Văn R (chết năm 1964), Phạm Văn G (chết năm 1968), Phạm Thị C1, Phạm Thị L, Phạm Thị L1, Phạm Thị Đ. Ông T3 có vợ là bà Kiều Thị H3 (đã chết) và có 03 người con là Phạm Thị Ơ (chết năm 1984) Phạm Phước T (chết năm 2020) và Phạm Hồng Đ1.

Nguồn gốc thửa đất 159 và một phần thửa đất số 86 đang tranh chấp là của cụ P. Cụ P chia đất cho 02 con mình như sau: ông Phạm Minh T2 khoảng 2200 m² đất sử dụng để trồng lúa, ông Phạm Văn T3 khoảng 300 m² đất là ngôi nền gò để cất nhà ở. Ông T3 ở trên nền đất đến năm 1968 thì có chiến tranh nên bỏ lên thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, đến khoảng năm 1975 thì quay lại cất nhà trên đất của mình. Năm 1975, ông T2 cho bà Đ toàn bộ phần đất lúa để bà Đ canh tác.

Khoảng năm 1978, bà Lê Thị N là vợ 2 của ông Lý Văn T4 (chồng của bà Phạm Thị A) từ ngoài Bắc vào N tìm ông T4 và ông T4 dẫn bà N đến gặp ông T3 xin đất cho ở nhờ, ông T3 cho bà N ở tạm tại phần đất nền của ông T3.

Trên phần đất bà Đ được ông T2 cho thì có khoảng 1000 m² đất trồng lúa và khoảng 1500 m² đất là lá dừa, cây bần. Bà N ở trên nền gò của ông T3 và xin bà Đ làm lúa trên khoảng 1000 m² đất của bà Đ và hứa đến khi nào bà Đ cần thì lấy lại nên bà Đ đồng ý, còn cây bần và lá dừa thì bà Đ sử dụng đến năm 2004 do hoàn cảnh gia đình nên bà Đ lên Thành phố Hồ Chí Minh làm mướn, bà N chiếm sử dụng hết toàn bộ phần đất khoảng 2200 m² mà ông T2 cho bà Đ. Năm 2017, bà N đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị bà Đ phát hiện, ngăn cản và các bên tranh chấp đến nay.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ là bà Võ Thị Â trình bày: Phần đất mà bà Đ yêu cầu bà N trả lại có có vị trí tại các khu A, B, D theo Mảnh trích đo địa chính số 02LS-2019 do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ4 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C phê duyệt ngày 07/6/2019 (sau đây gọi tắt là M trích đo số 02 LS-2019), còn phần đất mà ông T3 cho bà N ở nhờ có vị trí tại Khu C theo Mảnh trích đo số 02 LS-2019.

Nguồn gốc các khu A, B, D là do bà Đ cùng ông T2 khai hoang khoảng vào năm 1974, bà Đ sử dụng phần đất này để khai thác lá đến năm 2004 thì bà N lợi dụng bà Đ không có mặt tại địa phương nên chiếm đất sử dụng, hoàn toàn không có việc bà Đ cho bà N canh tác lúa trên phần đất tranh chấp. Việc ông T2, bà Đ khai hoang đất hay nguồn gốc đất từ cụ P cho ông T2 và ông T2 cho bà Đ canh tác từ năm 1974 đến nay thì bà Đ không có chứng cứ chứng minh để cung cấp cho Tòa án. Do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên bà Đ bận mưu sinh và nghĩ đất của mình vẫn là của mình nên bà Đ không có đi đăng ký kê khai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp.

Bà Đ khởi kiện yêu cầu: Buộc bà Lê Thị N trả bà Đ diện tích đất 956,2m² vị trí đất tại Khu A, 627, 8 m² đất vị trí tại Khu B, 605,6 m² đất vị trí tại Khu D theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 thuộc một phần thửa đất số 86 và thửa đất số 159, cùng tờ bản đồ số 03, loại đất lúa, tọa lạc tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Bà Đ yêu cầu công nhận cho bà Đ được quyền đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các Khu đất A, B, D nêu trên.

Bà Đ thống nhất sử dụng kết quả định giá tại Chứng thư thẩm định giá số Vc 19/07/164/BĐS-LA ngày 15/7/2019 của Công ty cổ phần T6, không yêu cầu định giá lại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Phạm Thị Đ thống nhất với lời trình bày của người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của mình, không bổ sung yêu cầu gì thêm. Bà Đ khẳng định trước năm 1974 thì không ai quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp các Khu A, B, D. Từ năm 1974, bà cùng ông T2 canh tác đất thì hiện trạng đất là trũng, có hố bom và cây bần, lá dừa mọc ở nhiều nơi trên đất. Đất trũng, có hố bom nên bà Đ không sử dụng canh tác lúa được mà chỉ khai thác lá từ năm 1974 đến nay. Bà Đ cũng chưa từng san lấp hay tôn tạo gì đối với phần đất này. Tại vị trí một số chỗ đất không trũng thì bà N có sử dụng để trồng lúa.

Trong đơn khởi kiện ngày 13/8/2018 nguyên đơn ông Phạm Hồng Đ1 và ông Phạm Phước T trình bày: Ông T và ông Đ1 là con của ông Phạm Văn T3. Nguồn gốc phần đất ông Đ1, ông T tranh chấp với bà N là do cụ Phạm Văn P cho ông Phạm Văn T3 khoảng năm 1965. Ông T3 cùng vợ là bà Kiều Thị H3 cất nhà ở trên đất đến khoảng năm 1968 thì lên Thành phố Hồ Chí Minh lánh nạn, nhà bị bom đạn chiến tranh đốt sạch. Năm 1975, vợ chồng ông T3 về lại cất nhà ở được 02 năm thì lại quay lên Thành phố Hồ Chí Minh sống, nhà bỏ trống thỉnh thoảng về thăm. Khoảng năm 1978, bà N đến xin ông T3 cho cất nhà ở tạm trên phần đất tại Khu C này và hứa khi nào ông T3 cần lấy lại thì bà N trả nhưng lợi dụng lúc vợ chồng ông T3 không ở trên đất thì bà N dỡ nhà của ông T3. Năm 1986, ông T3 chết, ông T và ông Đ1 có về trên đất cất nhà nhưng ở được khoảng 02 năm thì ông T, ông Đ1 tiếp tục đi lên Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, bà N lại dỡ nhà của ông T, ông Đ1. Năm 2006, bà N tự ý kêu kobe móc nền đất tại khu C để cấy lúa. Do đó, ông T và ông Đ1 khởi kiện yêu cầu bà N trả lại cho ông Đ1 phần đất có diện tích khoảng 300 m² đất tại một phần thửa 159 và yêu cầu bà N khôi phục lại hiện trạng đất ban đầu.

Năm 2020, ông Phạm Phước T chết, ông T không có vợ con. Ông T có chị là bà Phạm Thị Ơ (chết năm 1984) và có em là ông Phạm Hồng Đ1, ngoài ra không còn bất cứ anh chị em nào khác.

Ngày 01/11/2022, ông Phạm Hồng Đ1 có đơn khởi kiện bổ sung với nội dung yêu cầu: ông Đ1 yêu cầu buộc bà Lê Thị N trả lại toàn bộ phần đất tại khu C, diện tích 677,1 m² thuộc một phần thửa 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 và yêu cầu bà N trả lại phần chi phí san lấp phần đất tại Khu C là là 45.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bà Phạm Thị Đ là bà Võ Thị Â trình bày:

Ông Phạm Hồng Đ1 là nguyên đơn đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Phạm Phước T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện yêu cầu buộc bà Lê Thị N trả lại toàn bộ phần đất tại khu C, diện tích 677,1 m² thuộc một phần thửa 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa theo Mảnh trích đo số 02LS-2019. Đối với ngôi nền gò tại vị trí Khu C thì hiện trạng đất nền đã có từ xa xưa, do ai bồi đắp thì không rõ, nhưng ông Đ1 và ông T không phải là người bồi đắp phần đất này. Nay, ông Đ1 yêu cầu bà N khôi phục đất từ đất lúa thành đất nền như hiện trạng ban đầu nhưng tổng khối lượng đất cần khôi phục lại là bao nhiêu thì ông Đ1 không biết chính xác vì phần nền này đã bị móc đi từ lâu.

Ông Đ1, ông T chưa từng đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp với bà N bởi vì hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên ông Đ1, ông T bận mưu sinh, không thường xuyên có mặt tại địa phương và nghĩ đất của mình vẫn là của mình nên ông Đ1, ông T không có đi đăng ký kê khai.

Ông Đ1 thống nhất sử dụng kết quả định giá tại Chứng thư thẩm định giá số Vc 19/07/164/BĐS-LA ngày 15/7/2019 của Công ty cổ phần T6, không yêu cầu định giá lại.

Tại đơn yêu cầu ngày 10/01/2022 của bà Lê Thị N, Đơn trình ngày 26/4/2018, Biên bản lấy lời khai ngày 07/3/2019, bị đơn bà Lê Thị N trình bày:

Khoảng năm 1978, bà cùng chồng là ông Lý Văn T4 có đến gặp ông Phạm Văn T3 xin ở nhờ trên phần đất của ông T3 tại xã L và được sự đồng ý của ông T3 nên bà cùng chồng bà về đây ở. Hiện trạng đất lúc ông T3 cho bà ở nhờ là đất hoang, ông T3 có sử dụng một thời gian nhưng do chiến tranh nên ông T3 lên thành phố sống và bỏ đất trống, xung quanh cây cối mọc um tùm, trên đất có nhiều hố bom nên bà phải gánh đất để lấp hố bom để trồng lúa. Trong quá trình sử dụng đất từ năm 1978 đến nay không ai tranh chấp. Khi nhà nước có chủ trương cho đi đăng ký kê khai bà có đi đăng ký kê khai nhưng do sai sót nên trong số mục kê ghi nhận người đi kê khai là Lê Thị L2 trong khi họ tên của bà là Lê Thị N. Khoảng năm 1979, ông T3 có về xin bà cất nhà ở trên đất, bà có cất cho ông T3 01 căn chòi ở được khoảng 03 tháng thì ông T3 đi lên Thành phố Hồ Chí Minh ở và không về lại nữa. Khoảng từ năm 1990 đến 1995 thì ông Đ1 và ông T có đưa vợ con về ở trên đất nhưng ở khoảng 02 tháng thì 02 gia đình này cũng bỏ đi không ở nữa. Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của bà Đ, ông T, ông Đ1 thì bà N không đồng ý, yêu cầu cho bà được tiếp tục sử dụng phần đất đang tranh chấp và được đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của bị đơn bà Lý Thị D trình bày:

Bà N trình bày nguồn gốc đất tại các Khu C theo Mảnh trích đo địa chính số 02LS-2019 là của ông Phạm Văn T3 cho bà N ở. Năm 1978, được sự đồng ý của ông T3 bà N cất nhà ở tại phần đất tranh chấp và tiếp tục khai hoang, lấp hố bom, bồi đắp, tôn tạo các khu đất xung quanh để tạo nên hiện trạng các Khu đất A, B, C, D là đất lúa như hiện tại. Trong quá trình quản lý sử dụng đất, ông T3 và

con ông T3 có về xin ở trên đất nhưng chỉ được một khoảng thời gian ngắn thì lại tiếp tục bỏ đi cho nên người quản lý sử dụng đất xuyên suốt từ năm 1978 đến nay là bà N. Do đó đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, bà N có ý kiến như sau:

Bà N không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Phạm Thị Đ, Phạm Phước T và Phạm Hồng Đ1 bởi vì toàn bộ các phần đất tại các Khu đất A, B, C, D đang tranh chấp thì bà N đã sử dụng ổn định từ khoảng năm 1978 đến nay. Vị trí tại Khu C thì gia đình ông T3 có đi về ở nhưng mỗi lần ở chỉ khoảng một thời gian ngắn thì lại đi nên người trực tiếp quản lý sử dụng đất liên tục là bà N và phần nền đất Khu C này bà N là người trực tiếp bồi đắp, tôn tạo đất thành đất nền đến năm 2006 thì bà N ban đất ra các khu xung quanh để trồng lúa. Quá trình bà N sử dụng đất các Khu đất A, B, C, D từ năm 1978 đến năm 2017 hoàn toàn không có ai tranh chấp. Bà N có đi đăng ký kê khai và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1997 đối với các thửa đất 1750, 153 và 156 cùng tờ bản đồ số 3. Phần đất có vị trí tại Khu C bà N nhầm tưởng là thửa đất 156 đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có đi đăng ký kê khai nữa. Năm 2017, Ủy ban nhân dân huyện C thu hồi thửa đất số 156 do cấp sai đối tượng sử dụng thì bà N mới biết là thửa đất 156 không phải là vị trí đất tại Khu C, bà N tiếp tục đi đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị bà Đ ngăn cản và tranh chấp đến hiện tại. Do đó, bà N đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn và công nhận cho bà N được quyền sử dụng toàn bộ các Khu đất A, B, C, D theo Mảnh trích đo số 02LS-2019. Bà N không đồng ý khôi phục lại hiện trạng ban đầu của Khu C như yêu cầu của ông Đ1 vì phần đất Khu C không phải của ông Đ1 tôn tạo và bồi đắp mà do bà N bồi đắp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị C1, Phạm Thị L, Phạm Thị L1 do bà Võ Thị Â đại diện trình bày:

Bà C1, bà L, bà L1 là con là con của ông Phạm Minh T2 nhưng hoàn toàn không có tranh chấp gì với bà Đ trong vụ án này. Bà C1, bà L và bà L1 yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Lệ H1, ông Dương Thành C2, bà Dương Thị Lệ H do bà Võ Thị Á đại diện trình bày:

Các ông bà là con của bà Phạm Thị Ơ, là cháu của ông Phạm Văn T3. Bà H1, ông C2, bà H không có tranh chấp gì với ông Phạm Hồng Đ1, ông Phạm Phước T trong vụ án này, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T, ông Đức

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị T1 do bà Võ Thị Á đại diện trình bày: Bà T1 là con của ông Phạm Văn R. Bà T1 không có tranh chấp gì với bà Đ, yêu cầu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ.

Tại Biên bản ghi lời khai ngày 02/11/2022 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn S trình bày:

Phần đất hiện tại bà Đ đang tranh chấp với bà Lê Thị N có nguồn gốc của ông Phạm Văn P để lại cho ông Phạm Minh T2 sau đó ông T2 cho bà Đ nhưng

trong thời gian bà Đ không canh tác thì bà N chiếm sử dụng, còn việc bà N chiếm sử dụng từ thời gian nào thì ông không nhớ. Nay bà Đ khởi kiện bà N thì ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Đ, phần đất này bà Đ đã được ông T2 cho thì thuộc toàn quyền quyết định của bà Đ, ông không có bất kỳ tranh chấp nào với bà Đ.

Tại Biên bản làm việc ngày 09/12/2018 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L2 trình bày: Bà từ chối cung cấp lời khai, bà không liên quan đến vụ án nên yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt bà.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/12/2022 và tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng ông Bùi Văn H2 trình bày:

Phần phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông bà của bà Đ cho bà Đ. Khoảng năm 1978, bà N từ B vào nhà cha chồng của bà N ở T nhưng không được cho đất nên bà N cùng chồng xin gia đình bà Đ cho đất ở nhờ. Hàng năm, bà Đ có đến để đốn lá về sử dụng nhưng không có trồng lúa vì phần đất tranh chấp này là đất lá có nhiều hố bom, hố pháo nên không trồng lúa được. Năm 1995, Nhà nước hàn Kén Đôi Ma nên lá chết hết, bà Đ không khai thác lá được nên để đất trống thì bà N xin bà Đ cho sử dụng đất để trồng lúa và từ đó bà N chiếm sử dụng đến nay mà không trả lại. Sau khi bà N canh tác đất thì bà N lấp hố bom để trồng lúa. Trên phần đất ruộng này thì có 01 phần nền gò của ông T3, năm 1967 nhà nước tản cư thì ông T3 lên thành phố sống, sau hòa bình thì ông T3 có về cất nhà lá ở nhưng được chưa đầy 01 năm thì ông T3 lên thành phố sống tiếp, khoảng một thời gian sau đó có con ông T3 về sống được 02-03 năm thì đi, một khoảng thời gian sau nữa thì cháu nội ông T3 về sống được vài tháng thì lại bỏ đi và bà N dỡ nhà và phá nền gò của ông T3 và làm ruộng đến nay. Tuy nhiên mốc thời gian cụ thể của những sự kiện này thì ông không nhớ chính xác. Bà N làm ruộng xuyên suốt từ năm 1995 đến nay và bà Đ không có canh tác được phần đất này vì bà N không trả đất nhưng ông cũng không thấy hai bên cự cãi hay tranh chấp đất.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/12/2022 và tại phiên tòa, người làm chứng ông Trần Văn V trình bày:

Bà Đ thuê ông đốn lá cho bà Đ tại phần đất được bao bọc xung quanh bởi 01 con rạch, lá mọc cạnh rạch, ở giữa là đất trống không có trồng lúa mà để cỏ mọc lên, trên phần đất trống này có 01 nền gò trống không có ai ở và cũng không có cất nhà. Bà Đ thuê ông năm nào không nhớ rõ chỉ nhớ đến năm 1982 trở về sau là bà Đ không có thuê ông làm nữa vì lúc này Nhà nước hàn đê Đôi M1 dẫn đến lá chết hết nên không còn lá để đốn.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/12/2022 và tại phiên tòa, người làm chứng ông Hồ Văn Đ2 trình bày:

Phần đất bà N đang quản lý sử dụng trước đây là 01 miếng ruộng của ông T2 và có miếng vườn là của ông T3, hai phần đất này dính liền với nhau. Lúc ông T2 còn sống thì ông T2 canh tác quản lý phần đất ruộng, sau đó có bà Đ làm khoảng 02 đến 03 năm thì bỏ lên thành phố Hồ Chí Minh sinh sống, mốc thời gian bà Đ làm ruộng và mốc thời gian nào bà Đ không làm ruộng nữa thì ông không nhớ chính xác. Bà N làm ruộng của ông T2, bà Đ từ năm nào thì ông

không nhớ chính xác nhưng nhớ là khoảng năm 1976, 1977 ông đã thấy bà N đã bắt đầu làm ruộng rồi. Gắn liền với phần đất ruộng là 01 ngôi nền gò, trước năm 1975 thì không có ai ở, sau năm 1975 thì có một thời gian có cháu của ông T3 về cất chòi ở mấy tháng, thời gian về ở chính xác là năm nào ông không biết nhưng người này chỉ về ở được mấy tháng thì lại bỏ lên thành phố Hồ Chí Minh sinh sống. Thời gian sau này thì bà N phá dỡ nền gò này và trồng lúa đến nay, phá dỡ năm nào ông cũng không nhớ chính xác. Từ lúc bà N làm ruộng thì bà N làm xuyên suốt đến nay và bà Đ không có về làm ruộng tại phần đất đang tranh chấp.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 25/2023/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 166, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, 101, 166, 170, 202, 203 của Luật đất đai năm 2013; Án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Lê Thị N.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Lê Thị N.

Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

Bà Lê Thị N được quyền tiếp tục sử dụng phần đất thuộc một phần thửa đất số 86, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa có vị trí tại Khu A theo Mảnh trích đo số 02LS-2019, diện tích đo đạc thực tế là 956,2 m² và thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa có vị trí tại Khu B, C, D theo Mảnh trích đo số 02LS-2019, tổng diện tích đo đạc thực tế là 2189,6 m².

Bà Lê Thị N có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được xác định theo Bản án này và theo quy định tại Điều 100, Điều 170 Luật đất đai năm 2013.

Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên và môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.

Về lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 phải chịu 13.520.000 đồng, đã nộp xong.

Về án phí: Bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1, bà Lê Thị N được miễn toàn bộ án phí.

H4 lại cho bà Phạm Thị Đ 2.475.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000393 ngày 14/9/2018 và 9.370.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai 0008583 ngày 19/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước.

H4 lại cho ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000392 ngày 14/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 26/6/2023, nguyên đơn bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1 kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà N phải trả cho bà Đ phần đất có diện tích 956,2 m² (khu A) thuộc một phần thửa 86, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa và buộc bà N phải trả cho ông Đ1 phần đất có diện tích 677,1 m² (khu C) thuộc một phần thửa 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, đất tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Ông Đặng Trường C là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1 trình bày: Các phần đất tranh chấp thuộc thửa đất 159 và một phần thửa đất số 86 có nguồn gốc của cụ P (ông bà bà Đ). Cụ P cho 02 con là ông Phạm Minh T2 khoảng 2200 m² đất sử dụng để trồng lúa, ông Phạm Văn T3 khoảng 300 m² đất là ngôi nền gò để cất nhà ở. Năm 1975, ông T2 cho bà Đ toàn bộ phần đất lúa để bà Đ canh tác, sau đó bà Đ cho bà N canh tác (khu A, B, D). Còn đối với khu C là của ông T3, khoảng năm 1978, bà Lê Thị N đến gặp ông T3 xin đất cho ở nhờ, ông T3 cho bà N ở tạm tại phần đất nền của ông T3. Như vậy, đất là của ông T2 và ông T3, cho bà N sử dụng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, buộc bà N phải trả lại cho bà Đ phần đất có diện tích 956,2 m² tại khu A; 627,8 m² đất vị trí tại khu B; 605,6 m² đất vị trí tại khu D thuộc một phần thửa đất 86 và thửa đất 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa; trả cho ông Đ1 phần đất có diện tích 677,1 m² (khu C) thuộc một phần thửa 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, đất tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.

Bà Lý Thị D là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Các phần đất tại khu A, B, D bà N khai hoang sử dụng từ năm 1978, đối với khu C ông T3 cho bà N ở từ năm 1978, bà N đã sử dụng ổn định từ năm 1978 cho đến 2017 không có tranh chấp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Đ và ông Đ1, công nhận quyền sử dụng đất cho bà N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Nội dung kháng cáo: Nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1 có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết buộc bị đơn bà N trả cho bà Đ diện tích đất 956,2 m² thuộc thửa số 86 (vị trí khu A), 627,8m² (tại khu B), 605,6m² (tại khu D) cùng thuộc thửa 159 và trả cho ông Đ1 diện tích đất 677,1 m² thuộc thửa số 159 (vị trí khu C), các vị trí thể hiện theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 của Công ty TNHH Đ4, được Chi nhánh VPĐKĐĐ tại huyện C duyệt ngày 07/6/2019.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và xem xét nội dung đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1, thấy rằng:

+ Về việc tranh chấp giữa bà Đ với bà N đối với phần đất diện tích 956,2 m² thuộc thửa số 86 (vị trí khu A) và 627,8m² (tại khu B), 605,6m² (tại khu D) cùng thuộc thửa 159 theo Mảnh trích đo số 02LS-2019:

Các bên không thống nhất được với nhau về nguồn gốc đất, bà Đ cho rằng phần đất này bà được cha là ông Phạm Minh T2 tặng cho đất và cho bà N mượn đất sử dụng trồng lúa từ năm 1978 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, trong khi bà N không thừa nhận và tại các sổ bộ địa phương lưu trữ cũng không xác định nguồn gốc đất là của cụ P, ông T2 hay của bà Đ. Thực tế, bà N là người trực tiếp sử dụng phần đất trên từ năm 1978 và bồi đắp, tôn tạo đất. Mặt khác, theo Công văn số 86/UBND ngày 8/7/2020 của UBND xã L xác nhận: “Trước khi ông T, ông Đ1 và bà Đ khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất tại thửa đất 159, 86 với bà N thì trước đó (giai đoạn từ năm 1975 đến 2017) UBND xã L không giải quyết tranh chấp liên quan đến 02 thửa đất nêu trên”. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 03/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã L (kèm theo công văn số 86/UBND ngày 28/7/2020) thì ông Phan Hoàng A1 trình bày: “Khoảng năm 1978, ông T5 (chồng bà N) dẫn bà N về đây (Áp A, xã L) cất nhà lá sụp sệ để ở và khai hoang phần đất này sử dụng làm đất ở và canh tác lúa từ năm 1978 đến nay” và bà Nguyễn Thị Kim C3 trình bày: ”Theo tôi biết từ năm 1978 tôi vào cất nhà ở tiếp giáp phần lúa này và năm đó bà N cũng đang dở hoang (lá) làm lúa ổn định cho đến nay. Nên có cơ sở để xác định bà N là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất trên ổn định, lâu dài mà không có tranh chấp. Phía nguyên đơn bà Đ khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các vị trí khu đất trên nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh phần đất trên là thuộc quyền sử

dụng đất của gia đình bà Đ và cũng như không chứng minh được bà Đ có quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài các khu đất này nên không có cơ sở để chấp nhận.

+ Về việc tranh chấp giữa ông Đ1, ông T do ông Đ1 kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng với bà N đối với phần đất diện tích diện tích 677,1 m² thuộc thửa số 159 (vị trí khu C) theo Mảnh trích đo số 02LS-2019:

Các bên đều trình bày thống nhất thừa nhận phần đất tranh chấp có diện tích 677,1 m² thuộc thửa số 159 tại Khu C theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 có nguồn gốc từ ông Phạm Văn T3 cho bà Lê Thị N ở nhờ và bà N là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất tại Khu C này từ khoảng năm 1978 đến nay. Xét thấy, phần đất tranh chấp diện tích 677,1 m² (tại Khu C) thuộc một phần thửa số 159 mặc dù trước đây có nguồn gốc là của ông Phạm Văn T3 (cha ruột của ông Đ1) nhưng ông T3 chưa từng được cơ quan có thẩm quyền cấp bất kỳ giấy tờ gì về quyền sử dụng đất; phía gia đình ông T3 cũng không còn quản lý, sử dụng đất đối với phần đất cho bà N ở nhờ. Phần đất trên đã được bà N trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1978 cho đến nay, việc quản lý sử dụng đất của bà N là ổn định, lâu dài mà không có ai tranh chấp. Phía ông Đ1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp cũng như việc quản lý, sử dụng đất của gia đình ông đối với phần diện tích đất trên nên không có cơ sở để chấp nhận.

Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1, ông Phạm Phước T do ông Đ1 kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1 và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1 thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Văn S, bà Lê Thị L2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

[3] Đối với vị trí các phần đất tranh chấp:

Các đương sự thống nhất phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 86 và thửa đất số 159, cùng tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 02LS-2019 do Công ty TNHH Đ4,

được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C ký duyệt ngày 07/6/2019 gồm các khu sau: Khu A diện tích 956,2 m², khu B diện tích 627,8 m², khu C diện tích 677,1 m², khu D diện tích 605.6 m². Toàn bộ các phần đất nêu trên hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân và tổ chức nào. Hiện do bà Lê Thị N quản lý, sử dụng. Hiện trạng và giá trị quyền sử dụng đất theo Chứng thư thẩm định giá số 19/07/164/BĐS-LA ngày 15/7/2019.

[4] Xét kháng cáo của bà Phạm Thị Đ, thấy rằng:

Bà Phạm Thị Đ kháng cáo yêu cầu bà N phải trả lại khu A diện tích 956,2 m², khu B diện tích 627,8 m², khu D diện tích 605.6 m² thuộc một phần thửa đất 86 và thửa đất 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, đất tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.

[4.1] Về nguồn gốc đất: Các đương sự trình bày không thống nhất về nguồn gốc đất. Bà Phạm Thị Đ trình bày nguồn gốc đất là do cụ P để lại cho ông T2 và ông T2 cho bà Đ vào khoảng năm 1975, bà Đ cho bà N sử dụng trồng lúa từ năm 1978, khi nào có nhu cầu thì đòi lại. Bà N cho rằng các phần đất này bà khai hoang, sử dụng từ năm 1978 cho đến nay.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm thu thập tài liệu, chứng cứ:

Tại công văn số 116/CNVPĐKĐĐ-KTLTĐC ngày 23/01/2018 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C trả lời cho bà Võ Thị Â có nội dung như sau: “Căn cứ sổ mục kê đất đai thì thông tin thửa đất như sau: Thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, diện tích 2377 m², loại đất lúa, chủ sử dụng Lê Thị L2”. Tại xác nhận của Ủy ban nhân dân xã L ngày 30/9/2019 xác nhận theo Đơn xin cung cấp thông tin ngày 30/9/2019 của bà Võ Thị Â có nội dung: “Ủy ban nhân dân xã L xác nhận thửa đất số 86, tờ bản đồ số 3 trên sổ mục kê là do bà Lê Thị M2 đứng tên nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Tại Biên bản làm việc ngày 09/12/2018 của TAND huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình thể hiện bà Lê Thị L2 nêu trên không liên quan đến vụ án. Tại Công văn số 58/UBND ngày 26/5/2020, của Ủy ban nhân dân xã L có nội dung như sau: “Khi tiến hành tổ chức hòa giải vào các ngày 26/12/2019 và ngày 08/01/2020, UBND xã có phát hành thư mời nhưng không biết địa chỉ của bà Lê Thị M2. Bởi vì qua tra cứu hồ sơ lưu trữ của Công an xã L từ trước và sau năm 1975 không có tên bà Lê Thị M2 sinh sống hoặc đăng ký hộ khẩu thường trú trên địa bàn xã. Qua xác minh trong gia đình bà Phạm Thị Đ không có ai mang tên bà Lê Thị M2”. Tại Biên bản ghi lời khai ngày 28/8/2020, bà Lý Thị D nêu: “Trong gia đình tôi từ xưa đến nay không có ai tên Lê Thị M2”.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn căn cứ vào Danh sách các tổ chức và cá nhân đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng vào ngày 08/01/1991 có nội dung: “Số thứ tự 1143, họ tên Phạm Văn T3, tổng số thửa 3, diện tích 9021 m²” để xác định nguồn gốc các thửa đất 86 và 159 đang tranh chấp có nguồn gốc từ ông Phạm Văn T3 nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh trong 9021 m² đất nêu trên có bao gồm 02 thửa 86 và 159 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông T3 hay ông T2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 02 thửa 86, 159 trong khi sổ mục kê do

nhà nước lưu trữ thì thông tin người sử dụng đất của 02 thửa 86 và 159 hoàn toàn không có liên quan gì đến ông T3 hay ông T2. Và tại công văn số 9486/CN.VPĐKĐĐ-KTLT ngày 25/12/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C trả lời văn bản Tòa án có nội dung: “Không tìm thấy thông tin liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm Văn T3 (sinh năm 1915, chết năm 1986)”. Như vậy ông Phạm Văn T3 từ trước đến năm 1986 chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nào.

Thấy rằng, bà Đ cho rằng nguồn gốc đất là của ông bà để lại nhưng bà Đ không có chứng cứ gì chứng minh, tại các sổ bộ địa phương lưu trữ cũng không xác định nguồn gốc đất là của cụ P, ông T2 hay của bà Đ nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của nguyên đơn. Như vậy có đủ căn cứ chứng minh việc sổ mục kê ghi nhận thông tin về chủ sử dụng đất thửa 159 và 86 là bà Lê Thị L2 và bà Lê Thị M2 là không chính xác nên không có căn cứ sử dụng sổ mục kê để xác định chủ sử dụng đất cũng như nguồn gốc đất. Như vậy để giải quyết phần đất tranh chấp của nguyên đơn hay bị đơn, Tòa án căn cứ vào quá trình quản lý, sử dụng đất và kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

[4.2] Về quá trình quản lý, sử dụng đất và kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Bà Đ cho rằng bà cho bà N sử dụng các khu đất A, B, D để trồng lúa từ năm 1978, khi nào có nhu cầu thì đòi lại, người đại diện theo ủy quyền của bà Đ trình bày bà N sử dụng đốn lá từ năm 1978 đến năm 2004 bà N mới chiếm sử dụng đất, bà N cho rằng bà là người khai hoang trực tiếp quản lý sử dụng từ năm 1978 cho đến nay.

[4.3] Để có căn cứ xác định quá trình sử dụng đất Tòa án đã tiến hành lấy lời khai những người làm chứng như ông Bùi Văn H2, ông Trần Văn V, ông Hồ Văn Đ2, ông Lê Văn Q, ông Nguyễn Văn N2... và tiến hành xác minh quá trình quản lý, sử dụng đất:

Ông Bùi Văn H2 trình bày: “Khoảng năm 1978, bà N từ B vào nhà cha chồng của bà N ở T nhưng không được cho đất nên bà N cùng chồng xin gia đình bà Đ cho đất ở nhờ. Hàng năm, bà Đ có đến để đốn lá về sử dụng nhưng không có trồng lúa vì phần đất tranh chấp này là đất lá rất là sâu có nhiều hố bom, hố pháo nên không trồng lúa được. Năm 1995, Nhà nước hàn Kén Đôi Ma nên lá chết hết, bà Đ không khai thác lá được nên để đất trống thì bà N xin bà Đ cho sử dụng đất để trồng lúa và từ đó bà N chiếm sử dụng đến nay mà không trả lại.”

Ông Trần Văn V trình bày: “Bà Đ thuê ông đốn lá cho bà năm nào không nhớ rõ chỉ nhớ đến năm 1982 trở về sau là bà Đ không có thuê ông làm nữa vì lúc này Nhà nước hàn đê Đôi M1 dẫn đến là chết hết nên không còn là để đốn”.

Ông Hồ Văn Đ2 trình bày: “Bà N làm ruộng của ông T2, bà Đ từ năm nào thì ông không nhớ chính xác nhưng nhớ là khoảng năm 1976, 1977 ông đã thấy bà N đã bắt đầu làm ruộng rồi.”

Ông Lê Văn Q trình bày: “Tôi ở chung xóm với bà N, nhà tôi cách thửa đất số 86, 159 mà bà Đ, ông T, ông Đ1 và bà N tranh chấp khoảng 100 m. Tôi đến ấp

A, xã L sinh sống từ năm 1976 cho đến nay. Tôi thấy năm 1977 thì bà N đến khai hoang thửa đất số 86, 159 và sử dụng cho đến nay” và ông Nguyễn Văn N2 trình bày: “Tôi thấy bà N sử dụng đất từ năm 1977 cho đến nay”.

Tại Công văn số 86/UBND ngày 28/7/20220 của UBND xã L cung cấp thông tin trong quá trình giải quyết tranh chấp đất thửa 159, UBND xã có tiến hành thẩm tra, xác minh nguồn gốc đất, UBND xã gửi kèm biên bản xác minh, cụ thể kết quả xác minh: “Ông Phan Văn A2 và bà Nguyễn Thị Kim C3 xác nhận khoảng năm 1978 bà N khai hoang phần đất thửa 159 và sử dụng đến nay. Trước khi ông T, ông Đ1 và bà Đ khởi kiện tranh chấp thửa 86, 159 với bà N thì từ năm 1975-2017 UBND xã L không giải quyết tranh chấp nào liên quan đến 02 thửa nêu trên”.

[4.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ thừa nhận các khu đất A, B, D từ năm 1974 hiện trạng đất là trũng, có hố bom và cây bần, lá dừa mọc ở nhiều nơi trên đất. Đất trũng, có hố bom nên bà Đ không sử dụng canh tác lúa được mà chỉ khai thác đốn lá, từ năm 1974 đến nay bà Đ cũng chưa từng san lấp hay tôn tạo gì đối với phần đất này. Nguyên đơn trình bày nguồn gốc đất của gia đình nguyên đơn nhưng từ trước đến nay nguyên đơn không thực hiện đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cũng không có quản lý, sử dụng đất, bà N trình bày khoảng năm 1995-1997 có đi kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 02 thửa đất tranh chấp và được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 156, TBĐ số 3, loại đất vườn diện tích 294m² ngày 12/6/1997, thửa còn lại bà cũng đăng ký kê khai nhưng UBND xã L trả lời chưa có chủ trương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất cặp kênh rạch, nhưng đến ngày 04/12/2017 UBND huyện C có quyết định số 2924/QĐ-UBND thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà với lý do: Trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thửa số 156, tờ bản đồ số 3, cấp không đúng đối tượng quản lý sử dụng nhưng việc cấp sai này do cơ quan có thẩm quyền xác định sai số thửa. Đến ngày 13/7/2017 bà N có đi đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 159 thì bà Đ gửi đơn đến UBND xã L tranh chấp QSDĐ thửa 159.

Căn cứ lời khai của những người làm chứng, Biên bản thẩm định của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước ngày 22/3/2019 và sự thừa nhận của các bên thì phần đất tại các khu A, B, D hiện trạng là đất lúa do bà N đang trực tiếp canh tác, đó có đủ căn cứ chứng minh bà N là người sử dụng, san lấp và tôn tạo khu đất A, B, D từ đất trũng thành đất lúa như hiện tại.

[4.5] Ngoài ra, khi nộp đơn khởi kiện bà Đ cũng không xác định được phần đất tranh chấp. Khi tiến hành đo đạc tại vị trí khu A có diện tích 956,2 m² bà Đ không tranh chấp. Sau khi tiến hành đo đạc, vị trí diện tích thực tế các thửa đất theo Mãnh trích đo số 02LS-2019 thì bà Đ mới tranh chấp tại vị trí khu A. Như vậy bà Đ cho rằng phần đất tranh chấp của bà nhưng bà cũng không xác định được tại vị trí nào.

[4.6] Từ những phân tích trên, có căn cứ chứng minh bà N là người trực tiếp quản lý, sử dụng các khu đất A, B, D theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 khoảng từ năm 1978 đến năm 2017 đã 39 năm, không ai tranh chấp. Phía nguyên

đơn bà Đ khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với các vị trí khu đất trên nhưng không cung cấp được chứng cứ để chứng minh phần đất trên là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình bà Đ và cũng như không chứng minh được bà Đ có quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài các khu đất này nên không có cơ sở để chấp nhận.

Thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Phần đất tranh chấp bà N được tiếp tục sử dụng và đi kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

[5] Xét kháng cáo của ông Phạm Hồng Đ1, thấy rằng:

Ông Phạm Hồng Đ1 kháng cáo yêu cầu bà N phải trả lại khu C diện tích 677,1 m² thuộc một phần thửa 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa, đất tọa lạc tại xã L, huyện C, tỉnh Long An.

[5.1] Về nguồn gốc đất: Đối với phần đất có vị trí tại khu C theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 các đương sự trình bày thống nhất khu đất này có nguồn gốc từ ông Phạm Văn T3 cho bà Lê Thị N ở từ năm 1978 cho đến nay, hiện tại phần đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai.

[5.2] Về quá trình quản lý, sử dụng đất và kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Phần đất tranh chấp tại vị trí Khu C theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 có nguồn gốc là do ông Phạm Văn T3 cho bà N ở vào năm 1978 nhưng trong khoảng thời gian từ năm 1978 đến nay ông T3 và gia đình đã không sử dụng đất mà cho bà N sử dụng ổn định từ năm 1978 đến nay.

Xét thấy, phần đất tranh chấp diện tích 677,1 m² (tại Khu C) thuộc thửa số 159 mặc dù trước đây có nguồn gốc là của ông Phạm Văn T3 (cha ruột của ông Đ1) nhưng ông T3 chưa từng được cơ quan có thẩm quyền cấp bất kỳ giấy tờ gì về quyền sử dụng đất, phía gia đình ông T3 cũng không còn quản lý, sử dụng đất đối với phần đất cho bà N ở nhờ. Phần đất trên đã được bà N trực tiếp quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài từ năm 1978 cho đến năm 2017 đã 39 năm, việc quản lý sử dụng đất của bà N là ổn định, lâu dài mà không có ai tranh chấp. Phía ông Đ1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh quyền sử dụng hợp pháp cũng như việc quản lý, sử dụng đất của gia đình ông đối với phần diện tích đất trên nên không có cơ sở để chấp nhận.

[5.3] Nguyên đơn trình bày nguồn gốc đất của ông Phạm Văn T3 nhưng ông T3, ông Đ1, ông T đều không thực hiện đăng ký kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà N có đi kê khai đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó bị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lý do cấp sai đối tượng sử dụng đất.

Từ những phân tích trên, có căn cứ chứng minh bà N là người trực tiếp quản lý, sử dụng các khu đất C theo Mảnh trích đo số 02LS-2019 khoảng từ năm 1978 đến năm 2017 đã 39 năm, không ai tranh chấp. Phía nguyên đơn ông Đ1 khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất đối với vị trí khu đất trên nhưng không

cung cấp được chứng cứ để chứng minh phần đất trên là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông Đ1 và cũng như không chứng minh được ông Đ1 có quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài khu đất này nên không có cơ sở để chấp nhận.

Do đó, căn cứ vào quá trình quản lý, sử dụng đất của bà N đã trên 30 năm, không ai tranh chấp nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Phần đất tranh chấp bà N được tiếp tục sử dụng và đi kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai.

[6] Từ phân tích trên thấy rằng, xét kháng cáo của bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1 là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 25/2023/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 166, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 100, 101, 166, 170, 202, 203 của Luật đất đai năm 2013; Điều 236 của Bộ luật dân sự năm 2015; Án lệ số 33/2020/AL được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25 tháng 02 năm 2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Đ về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Lê Thị N

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với bà Lê Thị N.

3. Chấp nhận yêu cầu của bà Lê Thị N về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

Bà Lê Thị N được quyền tiếp tục sử dụng phần đất thuộc một phần thửa đất số 86, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa có vị trí tại Khu A theo Mảnh trích đo số 02LS-2019, diện tích đo đạc thực tế là 956,2 m² và thửa đất số 159, tờ bản đồ số 3, loại đất lúa có vị trí tại Khu B, C, D theo Mảnh trích đo số 02LS-2019, tổng diện tích đo đạc thực tế là 2.189,6 m².

(Vị trí, diện tích thực tế theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 02LS-2019 Công ty TNHH Đ4, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C ký duyệt ngày 07/6/2019).

Bà Lê Thị N có quyền và nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được xác định theo Bản án này và theo quy định tại Điều 100, Điều 170 Luật đất đai năm 2013.

Văn phòng đăng ký đất đai, Cơ quan Tài nguyên và môi trường, Cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án theo quy định của pháp luật.

4. Về lệ phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 phải chịu 13.520.000 đồng, đã nộp xong.

5. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tại cấp phúc thẩm: Bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1 phải chịu 3.500.000 đồng, đã nộp xong.

6. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị Đ, ông Phạm Hồng Đ1, bà Lê Thị N được miễn toàn bộ án phí.

H4 lại cho bà Phạm Thị Đ 2.475.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000393 ngày 14/9/2018 và 9.370.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai 0008583 ngày 19/6/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước.

H4 lại cho ông Phạm Phước T, ông Phạm Hồng Đ1 3.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000392 ngày 14/9/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước.

7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho bà Phạm Thị Đ và ông Phạm Hồng Đ1 án phí dân sự phúc thẩm.

8. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Đước;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Đước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 21/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Long An
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger