Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 21/2024/HSST

Ngày 11/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long

Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Liên

Ông Vương Đình Quang

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Hạnh Hoa; Thư ký toà án;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm: Bà Nguyễn Thị Kim Thơ;

Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 415/2023/HSST, ngày 18/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 430/2023/QĐXXST-HS ngày 29/12/2023, đối với bị cáo:

Họ tên: Nguyễn Tùng A, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: Số D, ngõ A V, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông Nguyễn Việt C (Đã chết) và bà Nguyễn Bích N; Vợ: Nguyễn Ngọc D; Có 01 con sinh năm 2018; D1 chỉ bản số 694 ngày 31/8/2023 do Công an quận N cấp; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại trại Tạm giam Số 1 – Công an thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Công ty TNHH Đ; Địa chỉ: Số C, ngõ A, phố Đ, phường V, quận H, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1997; ĐKHKTT: Số C, ngõ A, phố Đ, TDP số A, phường V, quận H, thành phố H; Có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đặng Tài T, sinh năm 1988; Địa chỉ: thôn C, xã Đ, huyện H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Cao T1, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  3. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985; Địa chỉ: thôn T, xã X, huyện T, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số B, B, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  4. Anh Nguyễn Quang K, sinh năm 1975; Địa chỉ: T, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  5. Anh Lê Văn L, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn L, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  6. Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1969; Địa chỉ: Tổ F, thị trấn Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  7. Chị Hoàng Thanh L1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số C T, phường T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  8. Anh Nguyễn Đức N1, sinh năm 1975; Địa chỉ: K, Chợ Y, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  9. Chị Nguyễn Thị N2 (Tên gọi khác: Nguyễn Thị N3), sinh năm 1979; Địa chỉ: thôn Đ, A đường Đ, xã Đ, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  10. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số A L, phường V, quận L, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  11. Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ I, V, quận H, Thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Số D A, quận T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  12. Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Số B, ngách C N, phường N, quận T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  13. Anh Lê Công C1, sinh năm 1988; Địa chỉ: thôn H, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  14. Anh Dương Văn C2, sinh năm 1996; Địa chỉ: xã P, huyện Q, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  15. Chị Lê Thúy K1, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số F P, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên toà.
  16. Anh Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số A, đường G, xã A, huyện H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  17. Anh Nguyễn Đình N4, sinh năm 1989; Địa chỉ: xóm Đ, xã Đ, huyện Q, Thành phố Hà Nội;
  18. Anh Nguyễn Tiến T4, sinh năm 1982; Địa chỉ: Cầu X, đường D, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
  19. Anh Hoàng Xuân C3, sinh năm 1985; Địa chỉ: Xóm F, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: thôn H, xã V, huyện H, Thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
  20. Bà Dương Thị H3, sinh năm 1956. Địa chỉ nơi cư trú: Số D, ngõ A, phường V, quận H, HN. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tùng A và anh Nguyễn Minh H, sinh năm 1997; HKTT: phường V, H, Hà Nội là bạn bè quen biết với nhau. Anh H là Giám đốc, đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Đ (gọi tắt là Công ty Đ) có địa chỉ tại số A phố M, phường T, N, Hà Nội. Do là bạn bè thân thiết từ trước nên khoảng tháng 3/2021, anh H đã nhận Nguyễn Tùng A vào làm việc cho Công ty Đ nhưng hai bên không ký kết hợp đồng lao động mà chỉ thỏa thuận công việc bằng miệng. Theo đó, Tùng A được giao nhiệm vụ phụ trách bán hàng cho các đại lý ở khu vực Hà Nội và thu công nợ (tiền hàng) từ các đại lý về nộp cho Công ty (nếu khách hàng trả tiền mặt). Trường hợp khách hàng thanh toán tiền hàng bằng hình thức chuyển khoản thì Tùng A phải yêu cầu khách chuyển tiền đến tài khoản số 8316998969999 mang tên Nguyễn Minh H4 của Công ty Đ tại ngân hàng M mà không được dùng tài khoản cá nhân để thu tiền hàng. Quá trình làm việc, Tùng A đều thực hiện đúng công việc được giao và chuyển tiền công nợ thu được về cho Công ty Đ1. Từ khoảng đầu tháng 03/2023, do cần tiền tiêu xài cá nhân và đánh bạc qua mạng dưới hình thức cá độ bóng đá nên Tùng A đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền hàng của Công ty Đ bằng cách yêu cầu các đại lý chuyển khoản tiền hàng trực tiếp vào tài khoản cá nhân của Tùng A tại ngân hàng T7, số tài khoản 19036224715019 mà không yêu cầu chuyển vào tài khoản của Công ty theo quy định. Sau khi nhận được tiền chuyển khoản hoặc tiền mặt (nếu đại lý đưa tiền mặt), Tùng A đã sử dụng để chi tiêu cá nhân và truy cập vào trang web: LUCKY88.COM”, tên đăng nhập “bietnaoduoc97”, mật khẩu “Loll1997” để nạp tiền đánh bạc và tham gia đánh bạc bị thua hết tiền nên không có tiền để nộp trả Công ty Đ. Đến khoảng tháng 6/2023, anh H thấy công nợ của các đại lý do Tùng A phụ trách còn nhiều nên hỏi thì Tùng A nói dối là các đại lý xin khất nợ hoặc đang chuẩn bị thanh toán nhưng thực tế là Tùng A đã nhận được tiền hàng và sử dụng hết vào chi tiêu cá nhân và đánh bạc.

Từ tháng 03/2023 đến tháng 08/2023 bằng thủ đoạn trên, Tùng A đã chiếm đoạt tiền nhận được từ 19 đại lý đã trả tiền hàng cho Công ty Đ và sử dụng chi tiêu và đánh bạc dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, cụ thể:

  1. Anh Đặng Tài T, sinh năm 1988, HKTT: xã Đ, H, Hà Nội là chủ đại lý M1; Địa chỉ: Xã L, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng B1 số 22010002677023 chuyển khoản tổng số tiền 45.144.000 đồng và đưa tiền mặt 5.320.000 đồng. Tổng số tiền đã thanh toán cho Tùng A là 50.464.000 đồng.
  2. Anh Nguyễn Cao T1, sinh năm 1994, HKTT: xã C, T, Hà Nội là chủ đại lý T8; Địa chỉ: phường H, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 0889811996 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 56.850.000 đồng.
  3. Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1985, HKTT: xã X, T, Hà Nội là chủ đại lý N6; Địa chỉ: phường T, T, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng V số [...] chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 47.736.000 đồng.
  4. Anh Nguyễn Quang K, sinh năm 1975, HKTT: T, B, Hà Nội là chủ đại lý K2; Địa chỉ: phường C, B, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số 015704060033085 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 24.488.400 đồng.
  5. Anh Lê Văn L, sinh năm 1991, HKTT: xã A, H, Hà Nội là chủ đại lý L2; Địa chỉ: phường D, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 65118666868 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 27.319.000 đồng.
  6. Chị Vũ Thị Y, sinh năm 1969, HKTT: thị trấn Đ, Đ, Hà Nội là chủ đại lý Q; Địa chỉ: thị trấn Đ, Đ, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng T7 số 19036078956017 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 13.207.000 đồng
  7. Chị Hoàng Thanh L1, sinh năm 1991, HKTT: phường T, H, Hà Nội là chủ đại lý T9; Địa chỉ: phường T, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng V2 số [...] chuyển khoản tổng số tiền 49.935.010 đồng.
  8. Anh Nguyễn Đức N1, sinh năm 1975, HKTT: phường P, H, Hà Nội là chủ đại lý T10; Địa chỉ: K chợ Y, phường P, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng B1 số 12210000200747 chuyển khoản cho Tùng A số tiền 7.254.000 đồng.
  9. Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1979, HKTT: xã Đ, Đ, Hà Nội là chủ đại lý N7; Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, Đ, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng A1 số11023177 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 16.769.000 đồng.
  10. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977, HKTT: phường V, L, Hà Nội là chủ đại lý B2; Địa chỉ: A L, phường V, L, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng V số 10486737148 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 19.322.000 đồng.
  11. Anh Nguyễn Xuân B, sinh năm 1980, HKTT: phường V, H, Hà Nội là chủ đại lý A2; Địa chỉ: Đội 3 Q, xã V, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng T7 số 19031628696555 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 10.717.000 đồng.
  12. Chị Đỗ Thị H2, sinh năm 1992, HKTT: phường N, T, Hà Nội là chủ đại lý T11; Địa chỉ: E Đê B, phường T, L, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng V số [...] chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 59.804.000 đồng.
  13. Anh Lê Công C1, sinh năm 1988, HKTT: xã C, T, Hà Nội là chủ đại lý C4; Địa chỉ: xã C, T, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số [...] chuyển khoản cho Tùng A số tiền 897.000 đồng
  14. Anh Dương Văn C2, sinh năm 1996, HKTT: xã P, Q, Hà Nội là chủ đại lý M3; Địa chỉ: xã P, Q, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng T7 số 19036778792015 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 35.132.000 đồng.
  15. Chị Lê Thúy K1, sinh năm 1978, HKTT: phường P, B, Hà Nội là chủ đại lý H6; Địa chỉ: F P, phường P, B, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng A1 số 23101978 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 11.737.000 đồng.
  16. Anh Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1984, HKTT : xã A, H, Hà Nội là chủ đại lý T12; Địa chỉ: xã A, H, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 6660110158888 chuyển khoản cho Tùng A số tiền 5.400.000 đồng.
  17. Anh Nguyễn Đình N4, sinh năm xã Đ, Q, Hà Nội là chủ đại lý N8; Địa chỉ: xóm Đ, xã Đ, Q, Hà Nội, sử dụng tài khoản ngân hàng M2 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 28.540.000 đồng.
  18. Anh Nguyễn Tiến T4, sinh năm 1982, HKTT: xã T, Đ, Hà Nội là chủ đại lý Anh T5; Địa chỉ: xã T, Đ, Hà Nội sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 3433991987 chuyển khoản cho Tùng A tổng số tiền 6.895.000 đồng.
  19. Anh Hoàng Xuân C3, sinh năm 1985, HKTT: T, Q, Nghệ An là chủ đại lý X; Địa chỉ: H, xã V, H, Hà Nội) sử dụng tài khoản ngân hàng T7 số 19029387768016 chuyển khoản cho Tùng A số tiền 1.241.000 đồng.

Tổng số tiền hàng Tùng A đã nhận và chiếm đoạt của công ty Đ là 473.707.020 đồng.

Đến ngày 08/8/2023, anh H phát hiện sự việc Tùng A đã chiếm đoạt của công ty số tiền 473.707.020 đồng (là tiền hàng đã nhận nhưng không thanh toán) nên đã hỏi thì Tùng A thừa nhận và cam kết với anh H đến ngày 17/8/2023 sẽ hoàn trả tiền. Tuy nhiên đến thời hạn, Tùng A không có khả năng khắc phục trả được tiền cho công ty Đ nên anh H đã đến Công an phường T trình báo sự việc.

Ngày 24/8/2023, Công an phường T đã triệu tập Tùng A đến trụ sở để làm rõ vụ việc.

Tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Tùng A, cơ quan Công an đã phát hiện lịch sử truy cập trang web: LUCKY88.COM nhưng qua kiểm tra, tại phần lịch sử đánh bạc không còn lưu lại dữ liệu và tại phần nạp tiền đánh bạc có hiển thị một số tài khoản ngân hàng. Tùng A khai: Do lịch sử đánh bạc chỉ lưu lại được 12 tiếng nên tại thời điểm kiểm tra không còn dữ liệu. Ngoài ra, mỗi lần đăng nhập để nạp tiền đánh bạc thì app sẽ hiển thị một tài khoản ngân hàng ngẫu nhiên để người chơi chuyển khoản nên các tài khoản ngân hàng H7 tại thời điểm kiểm tra không phải tài khoản ngân hàng T13 đã chuyển tiền để nạp tiền đánh bạc. Tùng A cũng đã thực hiện được các thao tác đăng nhập tài khoản, nạp tiền vào tài khoản và các thao tác khác để mô phỏng quá trình đánh bạc dưới hình thức cá độ bóng đá. Tuy nhiên do Tùng A khai không nhớ thông tin tài khoản ngân hàng, các giao dịch chuyển tiền để đánh bạc, không biết thông tin về app đánh bạc nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý.

Lời khai nhận tội của Nguyễn Tùng A phù hợp lời khai bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp kết quả sao kê tài khoản và tài liệu điều tra khác.

Về dân Sự: Gia đình bị can Nguyễn Tùng A đã khắc phục, bồi thường cho anh Nguyễn Minh H số tiền 150.000.000 đồng. Anh H không yêu cầu bồi thường số tiền còn lại và không có yêu cầu gì khác về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 373/QĐ-VKS-NTL ngày 23/11/2023 của VKSND quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Tùng A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo 3 Điều 175 (dẫn chiếu điểm a, b khoản 1 Điều 175) BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tùng A thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu. Bị cáo nhận ra sai phạm, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bị hại tại phiên troà xác nhận việc Nguyễn Tùng A có lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt số tiền của Công ty là 473.707.020 đồng là đúng. Hiện bị cáo T6 có thông qua người nhà là bà Nguyễn Thị H5 bồi thường cho Công ty số tiền 150.000.000đồng, đối số tiền còn lại 323.704.220 đồng thì Công ty không buộc Tùng A phải bồi thường. Ngoài ra Công ty không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thúy K1 có mặt trình bày bà có nộp tiền trả Công ty Đ số tiền như cáo trạng nêu thông qua Tùng A là người Công ty đi thu hồi công nợ, tại phiên toà hôm nay đại diện Công ty đã xác nhận việc bà đã thanh toán tiền cho Công ty nên bà không có yêu cầu gì khác.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên bà Dương Thị H3 là bà nội của bị cáo xác nhận sau khi bị cáo Tùng A nói nợ Công ty thì bà đã vay mượn hoàn trả Công ty thay cho Tùng A số tiền 150.000.000đồng, nay bà không có yê4u cầu T phải trả lại số tiền nêu trên. Bà đề nghị Toà án xem xét cho điều kiện hoàn cảnh của bị cáo, có bố mất sớm khi Tùng A còn nhỏ, bị cáo ở với mẹ và bà nội, nay có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ và con còn nhỏ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Những người có quyền lợi liên quan khác vắng mặt tại phiên toà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, luận tội nêu rõ: Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là là 473.707.020 đồng, đủ cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo khoản 3 Điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã cùng gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả, nhân thân trước khi phạm tội chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy đề nghị căn cứ khoản 3 Điều 175; điểm s, b khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 BLTTHS, đề nghị xử phạt Nguyễn Tùng A từ 8 năm 6 tháng tù đến 9 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2023. Dân sự: Không. Không phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng: Không. Buộc bị cáo Tùng A phải truy thu 323.704.220 đồng tiền thu lời bất chính sung công quỹ nhà nước

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an quận N; Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Hà Nội, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cũng như hành vi của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký tòa án. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa làm rõ: Nguyễn Tùng A và anh Nguyễn Minh H, người đại diện theo pháp luật của công ty TNHH Đ; Địa chỉ: số A phố M, phường T, N, Hà Nội, có quan hệ bạn bè nên Tùng A được anh H nhận vào làm việc tại công ty Đ từ khoảng tháng 3/2021, nhưng không ký hợp đồng lao động mà chỉ thỏa thuận miệng. Tùng A được giao nhiệm vụ bán hàng, thu công nợ của khách qua việc thu tiền mặt chuyển về công ty hoặc yêu cầu khách chuyển tiền đến tài khoản ngân hàng của công ty. Từ khoảng tháng 3/2023 đến tháng 8/2023, Nguyễn Tùng A đã nhận tiền hàng của 19 đại lý mua hàng thanh toán tiền trả cho Công ty Đ (thông qua việc Tùng A yêu cầu khách hàng chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của mình hoặc nhận tiền mặt) nhưng không nộp lại cho Công ty mà chiếm đoạt để chi tiêu cá nhân và sử dụng đánh bạc trên mạng (hiện không xác định được) bị thua hết tiền dẫn đến không có khả năng khắc phục trả lại tài sản cho Công ty. Cụ thể: anh Đặng Tài T (là chủ đại lý M1) chuyển 50.464.000 đồng; anh Nguyễn Cao T1 (là chủ đại lý T8) chuyển 56.850.000 đồng; chị Nguyễn Thị T2 (là chủ đại lý N6) chuyển 47.736.000 đồng; anh Nguyễn Quang K là chủ đại lý K2 chuyển 24.488.400 đồng; anh Lê Văn L (là chủ đại lý L2) chuyển 27.319.000 đồng; chị Vũ Thị Y (là chủ đại lý Q) chuyển 13.207.000 đồng; chị Hoàng Thanh L1 (là chủ đại lý T9) chuyển 49.935.010 đồng; anh Nguyễn Đúc N5 (là chủ đại lý T10) chuyển 7.254.000 đồng; chị Nguyễn Thị N2 (là chủ đại lý N7) chuyển 16.769.000 đồng; chị Nguyễn Thị H1 (là chủ đại lý B2) chuyển 19.322.000 đồng; anh Nguyễn Xuân B (là chủ đại lý A2) chuyển 10.717.000 đồng; chị Đỗ Thị H2 (là chủ đại lý T11) chuyển 59.804.000 đồng; anh Lê Công C1 (là chủ đại lý C4) chuyển 897.000 đồng; anh Dương Văn C2 (là chủ đại lý M3) chuyển 35.132.000 đồng; chị Lê Thúy K1 (là chủ đại lý H6) chuyển 11.737.000 đồng; anh Nguyễn Tiến T3 (là chủ đại lý T12) chuyển 5.400.000 đồng; anh Nguyễn Đình N4 (là chủ đại lý N8) chuyển 28.540.000 đồng; anh Nguyễn Tiến T4 (là chủ đại lý Anh T5) chuyển 6.895.000 đồng; anh Hoàng Xuân C3 (là chủ đại lý M3) chuyển 1.241.000 đồng. Tổng số tiền Tùng A đã chiếm đoạt của Công ty Đ là 473.707.020 đồng. Bị cáo và gia đình đã khắc phục hậu quả bồi thường cho anh Nguyễn Minh H 150.000.000 đồng, đối với số tiền 323.704.020đồng tiền, còn lại thì anh Nguyễn Minh H đại diện công ty không yêu cầu Tùng A bồi thường nữa.

[3] Như vậy tại thời điểm Công ty TNHH Đ đề nghị thì tổng giá trị tài sản bị cáo Nguyễn Tùng A chiếm đoạt là 473.707.020 đồng, do vậy đủ cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 175 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, vì vậy Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo vì mục đích tư lợi cá nhân thực hiện tội phạm. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án trong khung hình phạt, cách ly bị cáo ngoài xã hội một thời gian mới đủ cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội nhiều lần. Song khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối hối cải, điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo, hậu quả xảy ra bị cáo đã khắc phục hậu quả, nhân thân bị cáo trước khi phạm tội chưa có tiền án tiền sự, tại phiên toà người bị hại không còn có yêu cầu bồi thường để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Không.

[5] Vật chứng: Không.

[6] Đối với việc bị cáo khai đã dùng tiền chiếm đoạt được vào việc đánh bạc và bị thua lỗ Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra nhưng không thu được kết quả. Vì vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ và xử lý là có căn cứ.

Đối với số tiền 150.000.000đồng do bà Dương Thị H3 đứng ra bồi thường thay cho bị cáo cho người bị hại, tại phiên tòa bà H3 không yêu cầu xem xét giải quyết nên không phải giải quyết.

Đối với khoản tiền 323.704.020đồng, Nguyễn Tùng A có được do lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà có, song tại phiên toà hôm nay đại diện Công ty TNHH Đ không yêu cầu bị cáo Tùng A phải thanh toán trả lại khoản tiền này, đây là sự tự nguyện, định đoạt về dân sự diện Công ty TNHH Đ do vậy không buộc bị cáo Nguyễn Tùng A phải truy nộp sung công số tiền 323.704.020đồng như đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên toà.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tùng A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".
  2. Áp dụng: khoản 3 Điều 175 (dẫn chiếu điểm a,b khoản 1 Điều 175); điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Các Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.

    Xử phạt: Nguyễn Tùng A 6 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/8/2023.

    Không phạt bổ sung đối với bị cáo; Dân sự: Không; Vật chứng: Không.

  3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - UBND phường, xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - VKS nhân dân TP Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp TPHN ;
  • - Công an quận Nam Từ Liêm;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Quang Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tùng Anh - Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger