TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2024
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Xuân Thiều
2. Ông Phạm Xuân Đính
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Sách- Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 147/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị A, sinh năm 1992; (có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Anh Trương Văn H, sinh năm 1993; ( vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ C, ấp C, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chị Lê Thị A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu chị A và anh H quyết định chung sống với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, cãi vã, gây lộn, đánh đập nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên nhậu nhẹt rồi về nhà quậy phá, chửi mắng, có khi còn đánh đập chị. Chị A nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi. Do không thể tiếp tục chung sống nên anh chị đã sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân hai vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Nay chị A cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trương Minh L, sinh ngày 17/7/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 07/8/2013. Hiện cháu Trương Minh L đang sống với tôi còn cháu Trương Minh T ở với anh Trương Văn H và bà nội. Chị A yêu cầu nuôi cháu Trương Minh L và giao cháu Trương Minh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị A không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trương Văn H, mặc dù đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh H vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh H được.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành xác minh nơi cư trú của anh Trương Văn H và được Công an xã cung cấp thông tin là: anh H có đăng ký thường trú tại ấp C, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Tuy nhiên, anh H hiện nay không có mặt ở địa phương, đi đâu làm gì không rõ.
Do đó, căn cứ các Điều 177, 179 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng và giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị A không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ tài liệu nào khác và xin giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Trương Văn H vắng mặt không lý do và không cung cấp chứng cứ tài liệu gì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.
- + Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Quan điểm về giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình và lời khai của nguyên đơn cùng các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX tuyên:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị A được ly hôn với anh Trương Văn H.
Về con chung: Giao cháu Trương Minh L cho mẹ là chị A trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Trương Minh T cho C là anh H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu trong suốt quá trỉnh giải quyết vụ án của nguyên đơn chị Lê Thị A, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn anh Trương Văn H, cư trú tại Tổ C, ấp C, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
[3] Về thủ tục tố tung: Tại phiên tòa bị đơn anh Trương Văn H mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị A, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị A và anh Trương Văn H tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
[4.2] Về nguyên nhân mâu thuẫn: Nguyên đơn chị A trình bày trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh H thường xuyên nhậu nhẹt rồi về nhà chửi mắng, có khi còn đánh đập chị. Chị A nhiều lần khuyên bảo nhưng anh H vẫn không thay đổi. Do không thể tiếp tục chung sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2023 cho đến nay, trong thời gian ly thân hai vợ chồng không còn quan tâm nhau nữa. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã mở phiên hòa giải để động viên, thuyết phục và hàn gắn cho chị A, anh H nhưng anh H vắng mặt không lý do còn chị A vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Tòa án đã tiến hành xác minh về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương, nơi 02 vợ chồng có đăng ký hộ khẩu thường trú. Tuy nhiên, Trưởng ấp không nắm rõ được quan hệ nhân, cũng như mâu thuẫn vợ chồng.
Do đó, xét thấy, Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình hiện hành quy định về Tình nghĩa vợ chồng như sau: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.”
Nhưng giữa chị A và anh H không còn quan tâm nhau, không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau và đã sống ly thân từ tháng 08/2023 đến nay làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không còn duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị A cho chị A được ly hôn với anh H.
[4.3] Về con chung: Quá trình chung sống chị A và anh H có 02 con chung tên Trương Minh L, sinh ngày 17/7/2014 và Trương Minh T, sinh ngày 07/8/2013. Hiện nay, cháu Trương Minh L đang sống với chị A còn cháu Trương Minh T ở với anh Trương Văn H và bà N. Xét thấy, hiện cháu T đang sống cùng anh H, cháu L sống cùng chị A. Chị A yêu cầu nuôi cháu Trương Minh L và giao cháu Trương Minh T cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không có ý kiến phản đối. Do đó, Toà án chấp nhận giao cháu Trương Minh L, sinh ngày 17/7/2014 cho anh chị A trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Trương Minh T, sinh ngày 07/8/2013 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
[4.4] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị A không yêu cầu giải quyết và anh H không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4.5] Về tài sản chung: Chị A và anh H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[4.6] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lê Thị A phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lê Thị A được ly hôn với anh Trương Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Trương Minh L, sinh ngày 17/7/2014 cho anh chị A trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Trương Minh T, sinh ngày 07/8/2013 cho anh Trương Văn H trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết
4. Về nợ chung: Không có
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012557 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
Nơi nhận: - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa - VKSND thị xã Chơn Thành; - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành; - UBND xã Quang Minh - Chơn Thành - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Dương Thị Thúy |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Lê Thị A yêu cầu được ly hôn với anh Trương Văn H
