Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/DS-ST

Ngày 07 tháng 06 năm 2024

“V/v Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lại Thiện Phong

2. Ông Nguyễn Thành Đến

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Minh Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên

Trong ngày 07 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 205/2023/TLST-DS ngày 14 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 04 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Ư, sinh năm 1986 (Vắng mặt - Có đơn xin vắng)

Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp

Bị đơn: Ông Phan Văn L, sinh năm 1980 (Vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai nguyên đơn ông Trần Ư trình bày: Ông Ư khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Phan Văn L phải trả lại cho ông Ước số tiền 35.000.000 đồng mà ông Ư đã đặc cọc cho ông L để hai bên thực hiện hợp đồng mua bán lúa, đồng thời yêu cầu ông L phải trả lãi đối với số tiền này kể từ ngày ông Ư làm đơn khởi kiện là ngày 25/09/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Ngoài ra ông Ư không có yêu cầu gì khác.

Trước đây vào ngày 10/05/2023, ông Ư có thỏa thuận mua bán lúa với ông L. Theo thỏa thuận thì ông Ư đồng ý mua lúa của ông L với sản lượng là 80 tấn, loại lúa OM18 với giá 6.350 đồng/01kg. Theo thỏa thuận thì ông L sẽ giao lúa cho ông Ư nhận trong khoản thời gian từ ngày 02 đến ngày 10 tháng 07 năm 2023. Và ông Ư có đặc cọc cho ông L nhận tổng số tiền là 35.000.000 đồng (lần đầu ông Ư đưa tiền mặt số tiền là 20.000.000 đồng vào ngày 10/5/2023, lần thứ 2 ông Ư chuyển khoản cho ông L nhận số tiền cọc là 15.000.000 đồng nhưng ông Ư không nhớ rõ thời gian chuyển khoản).

Sau đó hai bên đã tiến hành mua bán lúa với nhau đúng theo thỏa thuận và ông Ư đã trả tiền mua lúa ông L đầy đủ tuy nhiên ông L không trả lại cho ông Ước số tiền 35.000.000 đồng mà ông Ư đã đặc cọc trước đó cho ông L mặc dù ông Ư đã nhiều lần liên hệ yêu cầu ông L trả lại tiền cọc cho ông Ư.

Ngày 16/4/2024, ông Ư có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Ông Ư rút lại yêu cầu ông L phải trả cho ông Ước số tiền cọc là 10.000.000 đồng và rút lại yêu cầu tính lãi đối với số tiền 10.000.000 đồng này.

Đối với số tiền đặc cọc 25.000.000 đồng còn lại thì ông Ư yêu cầu ông L phải trả cho ông Ư đồng thời phải trả lãi đối với số tiền này kể từ ngày 25/09/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án. Ngoài ra ông Ư không có yêu cầu gì khác.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/01/2024, bị đơn anh Phan Văn L trình bày: Ông L thống nhất với lời trình bày của ông Trần Ư về việc ông Ư có đặt cọc cho ông L số tiền là 35.000.000 đồng để hai bên tiến hành mua bán lúa với nhau và sau khi hai bên mua bán lúa với nhau xong và đã thanh toán tiền lúa đầy đủ thì ông L chưa có trả lại cho ông Ước số tiền mà ông Ư đã đặt cọc là 35.000.000 đồng này.

Sau khi ông Ư khởi kiện ông L ra Tòa án thì ông L đã có chuyển khoản gửi trả lại cho ông Ư được số tiền là 10.000.000 đồng (tuy nhiên ông L không nhớ rõ thời gian chuyển trả số tiền 10.000.000 đồng này).

Hiện tại ông L còn nợ lại ông Ước số tiền cọc là 25.000.000 đồng, ông L đề nghị ông Ư không tính lãi đối với số tiền còn nợ này đồng thời ông L đề nghị ông Ư cho ông L thời gian để ông L thanh toán số tiền còn nợ này cho ông Ư. Ngoài ra ông L không có ý kiến và yêu cầu gì khác.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay nguyên đơn, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ư về việc yêu cầu ông Phan Văn L phải trả cho ông Ước số tiền đặt cọc là 10.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đối với số tiền này.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ư đối với ông Phan Văn L. Buộc ông Phan Văn L phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Ư tổng số tiền là 26.733.000 đồng (trong đó nợ gốc là 25.000.000 đồng, nợ lãi là 1.733.000 đồng).

Ngoài ra ông L còn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Nguyên đơn ông Trần Ư khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Phan Văn L trả cho ông Ước số tiền đặc cọc là 35.000.000 đồng cùng tiền lãi phát sinh đối với số tiền này nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng đặt cọc. Đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông Phan Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn ông Phan Văn L căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự là phù hợp.

Về nội dung vụ án:

[3] Ngày 16/4/2024, nguyên đơn ông Trần Ư có đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Ông Ư rút lại yêu cầu ông L phải trả cho ông Ước số tiền đặt cọc là 10.000.000 đồng và rút lại yêu cầu tính lãi đối với số tiền này. Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Trần Ư là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội do đó căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 và Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Trần Ư.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ư yêu cầu ông Phan Văn L phải trả cho ông Ước số tiền đặt cọc là 25.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đối với số này kể từ ngày 25/09/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Quá trình giải quyết vụ án, ông Ư và ông L thống nhất xác định vào ngày 10/05/2023, ông Ư và ông L có thỏa thuận mua bán lúa với nhau. Theo thỏa thuận thì ông Ư đồng ý mua lúa của ông L với sản lượng là 80 tấn, loại lúa OM18 với giá 6.350 đồng/01kg. Theo thỏa thuận thì ông L sẽ giao lúa cho ông Ư nhận trong khoản thời gian từ ngày 02 tháng 07 đến ngày 10 tháng 07 năm 2023. Và ông Ư có đặc cọc cho ông L nhận tổng số tiền là 35.000.000 đồng. Sau đó hai bên đã tiến hành mua bán lúa với nhau đúng theo thỏa thuận, ông Ư đã trả tiền mua lúa ông L đầy đủ tuy nhiên ông L chỉ mới trả lại cho ông Ư được số tiền đặt cọc là 10.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền cọc 25.000.000 đồng đến nay ông L chưa trả lại cho ông Ư. Do đó việc ông Ư khởi kiện yêu cầu ông L phải trả cho ông Ước số tiền đặt cọc còn nợ là 25.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Xét yêu cầu tính lãi đối với số tiền cọc 25.000.000 đồng kể từ ngày 25/09/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án của ông Ư, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo quy định tại khoản 2 Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 thì “Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền....”. Hợp đồng mua bán lúa giữa ông Ư với ông L đã được thực hiện xong và bên ông Ư đã thanh toàn tiền mua lúa cho ông L đầy đủ tuy nhiên đến nay ông L chưa trả lại tiền cọc đầy đủ cho ông Ư là vi phạm quy định nêu trên. Do đó, việc ông Ư yêu cầu ông L phải trả lãi đối với số tiền cọc 25.000.000 đồng kể từ ngày 25/09/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Theo quy định Điều 357 Bộ luật Dân sự 2015 thì:

“1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”.

Lẽ ra, ông L phải có trách nhiệm trã lãi đối với số tiền cọc 25.000.000 đồng cho ông Ư kể từ ngày hai bên thực hiện xong hợp đồng mua bán lúa đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án, tuy nhiên do ông Ư chỉ yêu cầu ông L phải trả lãi đối đối với số tiền cọc 25.000.000 đồng kể từ ngày làm đơn khởi kiện là ngày 25/09/2023 cho đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án nên tiền lãi sẽ được tính như sau: [(25.000.000 đồng x 10%/năm) x (08 tháng 13 ngày)] = [(2.500.000 đồng/năm) x (08 tháng 13 ngày)] = [(6.849đồng/ngày) x (253 ngày)] = 1.732.797 đồng, lấy tròn là 1.733.000 đồng.

Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần buộc ông Phan Văn L có trách nhiệm trả cho ông Trần Ư tổng số tiền là: 26.733.000 đồng (trong đó nợ gốc là 25.000.000 đồng, nợ lãi là 1.733.000 đồng).

[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

[6] Về án phí: Ông L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền buộc phải trả cho ông Trần Ư là 1.337.000 đồng (26.733.000 đồng x 5% = 1.336.650 đồng, lấy tròn 1.337.000 đồng).

Ông Trần Ư không phải chịu án phí.

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 328, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;
  • - Căn cứ vào các Điều 2; 6; 7; 7a; 9 và Điều 30 Luật thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ư về việc yêu cầu ông Phan Văn L phải trả cho ông Ước số tiền đặt cọc là 10.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh đối với số tiền này.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Ư đối với ông Phan Văn L. Buộc ông Phan Văn L phải có trách nhiệm trả cho ông Trần Ư tổng số tiền là 26.733.000 đồng (trong đó nợ gốc là 25.000.000 đồng, nợ lãi là 1.733.000 đồng).
    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
  3. Về án phí:
    Ông Trần Ư không phải chịu án phí. Ông Trần Ư đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 875.000 đồng theo biên lai thu số 0007367 ngày 14/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại toàn bộ.
    Buộc ông Phan Văn L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch số tiền là 1.337.000 đồng.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh (1b);
  • - VKSND huyện (2b);
  • - CC.THADS huyện (1b);
  • - Các đương sự (2b);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tú Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 07/06/2024 của Tòa án nhân dân Huyện H, Tỉnh Bạc Liêu về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 21/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Huyện H, Tỉnh Bạc Liêu
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Ư với Phan Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger