Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

H. MỸ ĐỨC - TP. HÀ NÔI

Bản án số: 21/2024/HSST

Ngày: 07/5/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC,TP. HÀ NỘI

VỚI THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ


Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ

Ông Lê Mạnh Nhanh

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thùy Linh; Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà: Ông nguyễn Khắc T - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức – TP .; Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/HSST ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ tên: Tạ Thị T1; giới tính: Nữ; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1980 tại huyện T, tỉnh Nam Định; nơi ĐKHKTT: thôn G, xã H, huyện M, TP Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 03/12; họ tên bố: Tạ Văn S – Sinh năm 1952; họ tên mẹ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1954; đều trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; chồng: Nguyễn Đức T3, sinh năm 1986; trú tại: thôn H, xã P, huyện Ứ, TP Hà Nội; con: có 03 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo Tạ Thị T1 bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02/02/2024. Hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1980; trú tại thôn G, xã H, huyện M, TP có mặt tại phien tòa.

Nguời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1986; trú tại: thôn H, xã P, huyện Ứ, TP Hà Nội, có mặt.

Tại phiên tòa: Bị cáo, bị hại, và người liên quan là anh T3, có mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo cáo trạng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có nội dung như sau:

Tạ Thị T1 kết hôn với anh Nguyễn Văn S1 năm 2000, năm 2018 thì ly hôn. Đến năm 2023, chị T1 kết hôn với anh Nguyễn Đức T3, sinh năm 1986 trú tại thôn H, xã P, huyện Ứ, TP Hà Nội.

Khoảng 20 giờ ngày 28/12/2023, anh Nguyễn Đức T3 mang thuốc đến cho Tạ Thị v ở lại nhà T1 chơi. Khoảng 20 phút sau thì anh Nguyễn Văn S1, sinh năm 1980, trú cùng thôn đến gõ cửa. T3 ra mở cửa thì S1T3 xảy ra lời qua tiếng lại. Then chạy ra bảo T3 về nhưng S1 không cho về và dùng tay phải đấm vào miệng T3. Then đến ngăn cản và giằng co với S1, dùng tay cào cấu vào mặt và đấm S1. Lúc này, T3 dắt xe ra ngõ để đi về thì S1 đi ra chặn đầu xe, hai bên tiếp tục giằng co. T1 đi vào bếp lấy 01 con dao bầu dài 32cm, phần cán bằng gỗ dài 11cm, đường kính cán gỗ 03cm. Phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen bản rộng nhất 8cm, chiều dài lưỡi dao 21cm chém về phía Sang thì trúng đầu. Then tiếp tục chém về phía Sang khoảng 03 đến 04 cái nữa thì trúng vào khuỷu tay phải và cổ tay phải của S1. S1 giật dao từ tay T1 và ném đi. Then vào nhà lấy 01 gậy lò xo bằng kim loại cầm ra ngõ thì S1 giật lấy gậy lò xo vứt đi. Sau đó mọi người vào can ngăn nên T3 đi về, S1 đi sơ cứu tại Trạm y tế xã Hợp Tiến và đến bệnh viện đa khoa huyện M điều trị.

Xác minh thương tích của Nguyễn Văn S1 tại Trạm y tế xã Hợp Tiến xác định: “Phần đầu phía trên trán bị rách da dài khoảng 06cm, rộng 0,5cm. Vùng khuỷu tay bên phải bị rách da rộng 01cm, dài 3cm. Cổ tay phải có vết rách khoảng 01cm”. Nguyễn Văn S1 đã được sơ cứu, khâu vết thương vùng đầu 03 mũi, vùng khuỷu tay 03 mũi tại Trạm y tế xã Hợp Tiến và đến điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện M đến ngày 29/12/2023 thì xuất viện.

Ngày 29/12/2023, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M ra Quyết định trưng cầu giám định số 207/QĐ-ĐTTH trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C giám định thương tích và cơ chế hình thành thương tích đối với Nguyễn Văn S1.

Ngày 25/01/2024, V - Bộ C ra Kết luận giám định số 9714/KL-KTHS kết luận:

  • Vết thương đang liền sẹo vùng trán – đỉnh trái, kích thước nhỏ: 01%;
  • Vết thương đang liền sẹo mặt sau khuỷu phải, kích thước nhỏ: 01%;
  • Vết thương đang liền sẹo mặt trước cổ tay phải, kích thước nhỏ: 01%
  • Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Văn S1 tại thời điểm giám định là: 03%.
  • Tổn thương vùng trán – đỉnh trái, khuỷu phải và cổ tay phải của Nguyễn Văn S1 do vật sắc gây nên.

Đối với Nguyễn Đức T3, Cơ quan điều tra đã tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể đối với T3 xác định:

“- Tại phía bên phải môi bên dưới có vết trầy xước da có kích thước (0,7x0,5) cm.”

Ngày 18/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M ra Quyết định trưng cầu giám định số 107/QĐ-ĐTTH trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ C giám định thương tích và cơ chế hình thành thương tích đối với Nguyễn Đức T3.

Ngày 29/01/2024, V - Bộ C ra Kết luận giám định số 485/KL-KTHS kết luận:

  • Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đối với anh Nguyễn Đức T3 tại thời điểm giám định là 0%.

Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Đức T3Nguyễn Văn S1 đều không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Tại Cơ quan điều tra, Tạ Thị T1 thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với trình bày của bị hại, người liên quan và các tài liệu, chứng cứ đã được Cơ quan điều tra xác định trong quá trình điều tra vụ án.

Cáo trạng số 17/2024/CT-VKS-MĐ ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Tạ Thị Then tội: “Cố ý gây thương tích” áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo T1 khai: Bị cáo và anh Nguyễn Văn S1 là vợ chồng, có sinh được 03 người con chung nhưng sau đó đã ly hôn năm 2018, khi ly hôn thì T1 vẫn ở trên nhà đất của bố mẹ anh S1 để lại cho anh S1 và được anh S1 tặng cho để nuôi dạy các con chung do anh S1 phải đi cải tạo chấp hành án tại trại giam. Năm 2023 bị cáo T1 đã kết hôn với anh Nguyễn Tiến T4 nhưng hai người không ở cùng nhau, thỉnh thoảng anh T4 có đến chơi thăm Then. Ngày 18/12/2023 bị cáoThen bị ốm nên anh T5 có đến chơi và mua thuốc cho chị, khi hai người đang ngồi cùng nhau thì có anh S1 gõ cửa bước vào và gây sự với anh T4 vì cho rằng anh T4 không được đến nhà anh S1. Hai bên giằng co và đã dẫn đến việc T1 cầm dao nhọn đúng đối diện với S1 chém anh S1 vào đầu, vào khủy tay nhiều nhát, tiếp theo T1 dùng gậy lò so đánh anh S1 nhằm mục đích không cho anh S1 cản trở anh T4 ra về cho đến khi được mọi người can ngăn. Anh S1 được sơ cứu vết thương và được trưng cầu giám định thiệt hại thương tích tại vùng đầu, vùng khủy tay là 3%.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Then mức hình phạt từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách gấp đôi.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

Vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng là tang vật trong vụ án bao gồm: 01 con dao và 01 gậy lò so như biên bản giao nhận vật chứng

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị hại và người liên quan đều thừa nhận lời trình bày tại phiên tòa của T1 là đúng, Anh S1 và anh T4 không đề nghị tòa xem xét bồi thường dân sự. Phía anh S1 đề nghị Tòa án xét xử vụ việc theo pháp luật và nhất trí với đè nghị mức hình phạt của Đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo T1 được hưởng án treo.

Căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trang đã truy tố. Bị cáo tại phiên tòa đã thừa nhận dùng nhiều hung khí nguy hiểm để gây gây thương tích cho bị hại tại vùng đầy và khuỷu tay dẫn đến tổn hại sức khỏe là 3%. Bị cáo bị Viện Kiểm sát truy tố tội: “Cố ý gây thương tích” áp dụng điểm a khoản 1 điều 134 BLHS là đúng pháp luật:

Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ hành vi của bị cáo đã xâm hại đến quyền được bảo vệ sức khoẻ của công dân, gây náo loạn, ảnh hưởng xấu và làm mất đi tính ổn định trật tự an toàn tại địa phương nơi bị cáo gây án.

Xét hành vi của bị cáo: xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ giữa hai người đàn ông đều đã từng và đang là chồng của bị cáo, nhưng do không kìm nén được cơn tức giận khi bị hại là chồng cũ của mình có hành vi gây gổ với người chồng mới cưới của bị cáo, bị cáo đã có hành vi ứng xử mất bình tĩnh, hung hãn và thiếu đi tình người, trong khi bản thân vẫn đang sinh sống trên đất có nguồn gốc là của bị hại ( chồng cũ) và sức khỏe của mình đang bị ốm mệt. Nhưng vẫn xông vào dùng tay cào cấu bị hại, tiếp theo dùng nhiều hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại. mặc dù không nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại nhưng với hành vi quyết liệt đã dùng dao có bản lưỡi to và mũi nhọn chém nhiều nhát về phía bị hại không khoan nhượng cho đến khi bị hại giật được các hung khí ném đi thì mọi chuyện mới chấm dứt. bản thân bị cáo là phụ nữ và biết rõ dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật thể hành vi của bị cáo thể hiện việc phạm tội quyết liệt và coi thường pháp luật, coi thường chuẩn mực đạo đức xã hội. Vì vậy cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo đủ để cải tạo, răn đe và giáo dục để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Tuy nhiên khi lên mức hình phạt HĐXX đã xem xét: Tại phiên tòa bị cáo T1 đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu, tỏ ra ăn năn hối cải, phạm tội gây thiệt hại về sức khỏe cho bị hại không lớn. Bị cáo đầu thú, tại phiên tòa bị hại cũng nhất trí đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cho bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo do hoàn cảnh của bị cáo hiện đang nuôi 03 con chung của bị cáo với bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại các điểm i, s khoản 1, 2 điều 51 BLHS, Hội đồng xét xử đã xem xét cân nhắc để lên mức hình phạt phù hợp với bị cáo.

Các vấn đề khác:

Đối với hành vi của Nguyễn Văn S1 dùng tay không đấm trúng miệng anh Nguyễn Đức T3 gây thương tích nhưng chưa gây tổn hại 0% sức khỏe nên Cơ quan Công an không xem xét xử lý hình sự đối với S1. Ngày 27/3/2024, Cơ quan Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn S1 về hành vi gây thương tích là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Do Nguyễn Văn S1Nguyễn Đức T3 không đề nghị bồi thường gì về hành vi gây thương tích cho mình nên không xem xét giải quyết.

Về vật chứng gồm: Cần xử lý như đại diện Việ kiểm sát đề nghị là có căn cứ. Án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo: Tạ Thị T1 phạm tội "Cố ý gây thương tích

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt:

1. Tạ Thị T1 mức án 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo được hưởng án treo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để theo dõi giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp trong thời gian thử thách, bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc theo dõi giám sát được áp dụng theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người liên quan không có yêu cầu đòi bồi thường gì nên không xem xét.

Vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy: 01 con dao bầu dài 32cm, phần cán bằng gỗ dài 11cm, đường kính cán gỗ 03cm. Phần lưỡi dao bằng kim loại màu đen bản rộng nhất 8cm, chiều dài lưỡi dao 21cm;

- 01 gậy lò xo bằng kim loại hình trụ màu đen có tay nắm ở hai đầu bằng nhựa có kích thước dài 54cm.

Theo biên bản giao nhận vật chứng tại cơ quan Thi hành án Dân sự huyện M ngày 17/4/2024.

Áp dụng: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình; Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về ... lệ phí, án phí Tòa án.

Buộc bị cáo Then phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình trong bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

NƠI NHẬN:

- TAD - TAND thành phố Hà Nội;

- Viện - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức;

- Bi - Chi cục THA dân sự Mỹ Đức;

- Các - Bị cáo, bị hại; người liên quan

Ngời - Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú;

- Lu - Lu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Bùi Thị Hồng


CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tạ Thị T - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger