Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 07/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khương Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Ông Trương Ngọc Điệp;
  • - Bà Huỳnh Thị Thùy Dương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 309/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 304/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Tấn P, sinh năm 1991, tại tỉnh Bình Dương; CCCD số: Chưa làm CCCD; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Không nơi đăng ký hộ khẩu thường trú; nơi cư trú: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Hồ Thu V (chết); bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 23/10/2019, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 176/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/12/2020; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay; có mặt.
  2. Bùi Anh T1, sinh ngày 14/6/2005, tại tỉnh Sóc Trăng; CCCD số: [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 04/12/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Số E, tổ A, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Bùi Thị Mỹ C; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/11/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay; có mặt.
  3. Huỳnh Thị Hồng T2, sinh năm 1996, tại tỉnh Đồng Nai; CCCD số [...] do Cục C3 về TTXH cấp ngày 07/02/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số H, tổ G, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H và bà Nguyễn Thị X; bị cáo chưa có chồng; bị cáo có 01 người con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; vắng mặt.
  4. Lê Văn C1, sinh năm 1986, tại tỉnh Bình Dương; CCCD số [...] do Cục C3 về TTXH cấp ngày 22/11/2022; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh H1 (chết) và bà Nguyễn Thị T3; có vợ là Nguyễn Thị Mộng D, bị cáo chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2024 cho đến nay; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn C1: Luật sư Nguyễn Hoàng M – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.

Bị hại: Bà Đào Thị D1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số A, tổ C, khu phố E, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Bà Bùi Thị Mỹ C, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; có mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị Kim V1, sinh năm 1989; địa chỉ: Số E, tổ A, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có mặt.

Người làm chứng: Bà Đỗ Thị Ngọc B; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Nguyễn Tấn P, Huỳnh Thị Hồng T2 và Bùi Anh T1 là bạn quen biết nhau và không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/11/2023, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh lá cây (không rõ biển số) chở T2 và T1 đi về nhà trọ của T1 tại phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khi cả 03 đi đến đường L, đoạn qua tổ C, khu phố F, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì P nhìn thấy xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 của bà Đào Thị D1 đang dựng bên lề đường Lò L nhưng không có người trông coi và trên xe mô tô có gắn sẵn chìa khóa nên P nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô trên của bà D1 và rủ T1 cùng thực hiện hành vi lấy trộm xe mô tô trên, T1 đồng ý. Thực hiện ý định trên, P dừng xe và cùng T2 ngồi trên xe cùng với P để cảnh giới, còn T1 xuống xe đi bộ đến dùng tay mở khóa và lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 của bà D1 rồi nổ máy điều khiển xe mô tô chạy tẩu thoát cùng với P và T2. Lúc này, bà D1 đang hái rau ở gần đó nghe tiếng động và phát hiện xe mô tô bị trộm cắp liền chạy bộ ra đường L tri hô và đuổi theo nhưng không kịp nên đến Công an phường T trình báo sự việc. Tại Cơ quan Công an, bà D1 khai ngoài việc bị lấy trộm xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 thì trong cốp xe mô tô còn có số tiền khoảng 61.600.000 (sáu mươi mốt triệu sáu trăm nghìn) đồng và 01 (một) lượng vàng 9999 trị giá khoảng 60.000.000 (sáu mươi triệu) đồng, 01 (một) lượng vàng 18K trị giá khoảng 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Tổng tài sản bị trộm cắp khoảng 171.600.000 (một trăm bảy mươi mốt triệu, sáu trăm nghìn) đồng.

Đối với P, T1 và T2, sau khi lấy trộm xe mô tô của bà D1 thì cả 03 chạy đến đường N, đoạn qua phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì T1 dừng xe mô tô và kiểm tra cốp xe thì nhìn thấy có 01 (một) cái bóp da màu nâu, kiểm tra bên trong có số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng và 02 (hai) hộp nhựa màu đỏ đựng nữ trang thì T1 lấy số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe mô tô chạy theo P và T2 đến quán cà phê (không rõ tên) ở đường M - T, đoạn qua phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T1 kiểm tra trong cốp xe mô tô và nói với P và T2 có vàng ở trong cốp xe rồi T1 lấy trong cốp xe ra 01 (một) cái bóp da màu nâu và kiểm tra bên trong thì thấy có các loại giấy tờ cá nhân và có 02 (hai) hộp nhựa màu đỏ bên trong có nhẫn, dây chuyền và bông tai bằng kim loại màu vàng. Sau đó, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh lá cây (không rõ biển số) chở T2, còn T1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 vừa trộm được đi đến quán bún riêu ở đường M - T, đoạn qua phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương của Lê Văn C1 để liên hệ bán xe mô tô vừa lấy trộm. Tại đây, T2 đứng ở ngoài đường chờ, còn P và T1 đi vào gặp C1 hỏi C1 “có mua xe mô tô không?” thì C1 nói “để xe đó”. Sau đó, P và T1 để xe mô tô trước cổng nhà Chung rồi cùng với T2 đi đến quán nước (không rõ tên) ở đường M - T, đoạn qua phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương chờ C1 liên hệ bán xe mô tô. Khoảng 20 phút sau, C1 gọi điện thoại cho P nói mua xe với giá tiền là 2.000.000 (hai triệu) đồng thì P đồng ý bán. Lúc này, C1 kêu P gửi số tài khoản để C1 chuyển tiền thì P gửi số tài khoản 00003528046 mở tại ngân hàng T4 cho C1 và C1 chuyển số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng cho P. Khi C1 gọi điện thoại cho P thì có T1 đang ở bên cạnh P và P mở loa ngoài điện thoại nên T1 nghe việc trao đổi mua bán xe giữa C1 và P. Sau khi bán được xe mô tô, T1 lấy 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng và khoảng 02 (hai) - 03 (ba) chiếc nhẫn kim loại màu vàng, còn P lấy 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng rồi cả hai đi đến tiệm V2, địa chỉ tại chợ N1, phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương để bán số vàng còn lại. Tại đây, chị Đỗ Thị Ngọc B là chủ tiệm vàng lấy 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng, 01 (một) lắc đeo tay tròn ra kiểm tra thì phát hiện không phải vàng thật nên không mua mà trả lại cho P và T1. Trên đường đi về, P và T1 vứt số nữ trang còn lại vào bãi đất trống rồi P đi rút tiền và chia cho T1 số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng. Đối với 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, T1 cất giữ đến ngày 05/11/2023 thì T1 cho bạn gái là Nguyễn Thị Kim V1, còn 01 (một) chiếc nhẫn kim loại màu vàng thì T1 đã làm rớt mất, khoảng 01 (một) – 02 (hai) chiếc nhẫn vàng còn lại T1 đem chôn giấu, nhưng trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra không truy tìm được vật chứng. Đối với 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng thì P cho Huỳnh Thị Hồng T2 nhưng T2 không đeo mà đưa lại cho P, sau đó P đem bán (không nhớ nơi bán) được số tiền 2.300.000 (hai triệu ba trăm nghìn) đồng. Đến ngày 15/11/2023, P, T1 và T2 đến Công an phường T đầu thú về hành vi trộm cắp xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 của bà D1. Sau đó, Công an phường T lập hồ sơ vụ việc, và chuyển giao hồ sơ cùng các đối tượng Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1 và Huỳnh Thị Hồng T2 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T để xử lý và giải quyết theo thẩm quyền. Cùng ngày 15/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định tạm giữ đối với P và T1, còn T2 do đang mang thai nên được cho tại ngoại; đồng thời tạm giữ được số vật chứng, gồm: 01 (một) bóp da màu nâu; 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng (do Nguyễn Thị Kim V1 giao nộp); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note, màu đen của Nguyễn Tấn P; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu vàng, số Imel: 357558/06/703462/5 của Huỳnh Thị Hồng T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y66, màu vàng, số ID: 2016CP6709 của Bùi Anh T1.

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 349/KL-HĐĐGTS ngày 23/11/2023 và Bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68, trị giá 8.000.000 (tám triệu) đồng; 01 (một) bóp da nữ màu nâu, trị giá 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng; 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, vàng 14K, trị giá 1.090.000 (một triệu không trăm chín mươi nghìn) đồng.

Đối với bị cáo Lê Văn C1, trong quá trình điều tra và tại các phiên tòa ngày 24 và 25/10/2025, bị cáo không thừa nhận hành vi tiêu thụ xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 từ P và T1.

Về các vấn đề khác của vụ án:

  • - Quá trình điều tra, ngày 10/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T lập biên bản giao trả 01 (một) bóp da nữ màu nâu và 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, vàng 14K cho bà Đào Thị D1. Trong quá trình điều tra, bà D1 yêu cầu P, T1 và T2 bồi thường tổng số tiền 166.500.000 (một trăm sáu mươi sáu triệu năm trăm nghìn) đồng. Ngày 19/8/2024, bà Bùi Thị Mỹ C, sinh năm 1984, đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng là mẹ ruột của Bùi Anh T1 giao nộp số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để nhằm bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho Bùi Anh T1.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S Note, màu đen thu giữ của Nguyễn Tấn P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng, thu giữ của Huỳnh Thị Hồng T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y66, màu vàng thu giữ của Bùi Anh T1 là tài sản cá nhân của P, T2, T1 không liên quan đến hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản và số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bà Bùi Thị Mỹ C nộp để khắc phục hậu quả cho người bị hại thay cho bị cáo T1, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển các điện thoại và số tiền nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
  • - Bị cáo Lê Văn C1 không thừa nhận hành vi tiêu thụ xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 của P và T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không thu hồi được xe mô tô trên.

Về trích dẫn cáo trạng của Viện Kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 189/CT-VKSTDM ngày 26/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2, về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Văn C1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về mức hình phạt:

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Anh T1 mức hình phạt từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Hồng T2 mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn C1 mức hình phạt từ 09 tháng đến 01 (một) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu bồi thường thiệt hại của bà Đào Thị D1 buộc các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2 bồi thường cho bà Đào Thị D1 số tiền 12.600.000 đồng.

- Về vật chứng: Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một quyết định quản thủ để đảm bảo thi hành án đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S Note, màu đen thu giữ của Nguyễn Tấn P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng, thu giữ của Huỳnh Thị Hồng T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y66, màu vàng thu giữ của Bùi Anh T1 là tài sản cá nhân của P, T2, T1 không liên quan đến hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản và số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bà Bùi Thị Mỹ C giao nộp.

Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lê Văn C1 là ông Nguyễn Hoàng M trình bày: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố bị cáo Lê Văn C1 về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là chưa đủ cơ sở. Cơ quan tiến hành tố tụng chưa làm rõ hai dấu hiệu cơ bản của tội phạm là: Biết rõ tài sản do phạm tội mà có, cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào tinh thần của Thông tư 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC và Nghị quyết 03/2004/NQ-HĐTP để xác định thế nào là nguồn tài sản phạm tội mà có, nhưng bị cáo C1 không thừa nhận hành vi phạm tội nên không thể xác định bị cáo biết tài sản do phạm tội mà có. Như vậy Cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh hành vi khách quan của bị cáo. Thông thường không thể xác định 01 chiếc xe Phát chạy đến là do P phạm tội mà có; P và T1 cũng không có bàn bạc, trao đổi gì với C1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cáo buộc bị cáo C1 mua xe khi chỉ xác định được P để xe ở trước nhà Chung là không có cơ sở. Cơ quan tiến hành tố tụng chỉ dựa vào chứng cứ duy nhất là bị cáo C1 chuyển tiền từ tài khoản của C1 đến tài khoản của Võ Hoàng N để xác định C1 phạm tội là không đúng. Trong khi, C1 khai C1 chuyển tiền giúp cho P và lấy phí là 50.000 đồng, tài khoản C1 chuyển tiền vào là của Võ Hoàng N chứ không phải của P. Theo sao kê tài khoản ngày 04/11/2023 thì không có số tiền 2.000.000 đồng nào được rút ra để trả cho T1; giá mua xe là 2.000.000 đồng cũng không phù hợp với giá thị trường, vì với chiếc xe mô tô như vậy không thể chỉ bán với giá 2.000.000 đồng. Hồ sơ vụ án cáo buộc các bị cáo trao đổi với C1 hỏi C1 “có mua xe mô tô không” và C1 nói “để đó đi” để buộc tội C1. Trong khi lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa còn không thống nhất. Bị cáo T2 lúc đầu khai là không đến nhà Chung, lúc sau thì khai cùng đi với P và T1 đến nhà Chung. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo C1 không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Tại phiên tòa, bị hại là bà Đào Thị D1 trình bày: Bà D1 không lưu giữ các tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc, số lượng, đặc điểm các tài sản là vàng mà bà D1 để trong cốp xe mô tô, cũng như không có chứng cứ nào để chứng minh bà D1 có để số tiền mặt 61.600.000 (sáu mươi mốt triệu sáu trăm nghìn) đồng trong cốp xe mô tô tại thời điểm bị mất trộm. Tại phiên tòa, bà D1 chỉ yêu cầu các bị cáo bồi thường cho bà D1 số tiền đủ để cho bà D1 mua một chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius mới, số tiền cụ thể là bao nhiêu thì bà D1 không biết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Bùi Thị Mỹ C trình bày: Bà C là mẹ của bị cáo T1, trong quá trình điều tra bị cáo T1 tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại để khắc phục một phần hậu quả do bị cáo gây ra nên bà C đã nộp số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại. Bà C không yêu cầu bị cáo T1 phải trả lại cho bà C số tiền nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Nguyễn Thị Kim V1 trình bày: Bà V1 là bạn gái của bị cáo T1, bà V1 không biết đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, vàng 14K mà bị cáo T1 cho bà V1 là do trộm cắp mà có. Khi bị cáo T1 cho bà V1 đôi bông tai thì bà V1 có nhìn thấy bị cáo đeo một chiếc nhẫn màu vàng, một thời gian sau thì chiếc nhẫn chuyển sang màu bạc. Bị cáo T1 nói với bà V1 đôi bông tai và chiếc nhẫn là vàng giả do bạn bị cáo T1 cho bị cáo T1. Trong quá trình điều tra bà V1 đã giao nộp cho cơ quan cảnh sát điều tra đôi bông tai nêu trên, bà V1 không có yêu cầu gì trong vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo P, T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện Kiểm sát, bị hại, người bào chữa cho bị cáo C1.

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo P, T1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1 đã khai nhận: Khoảng 09 giờ 20 phút ngày 04/11/2023, tại đường L, đoạn qua tổ C, khu phố F, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1 và Huỳnh Thị Hồng T2 đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68, trị giá 8.000.000 (tám triệu) đồng; bên trong cốp xe có số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng; 01 (một) bóp da nữ màu nâu, trị giá 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng; 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, vàng 14K, trị giá 1.090.000 (một triệu không trăm chín mươi nghìn) đồng và 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng mà P khai nhận bán được số tiền 2.300.000 (hai triệu ba trăm nghìn) đồng của bị hại D1. Tổng trị giá tài sản các bị cáo P, T1 và T2 chiếm đoạt của bị hại D1 là 12.160.000 (mười hai triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng). Sau khi trộm cắp xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 của bị hại, các bị cáo P, T1 đem xe mô tô trên bán cho bị cáo Lê Văn C1 được số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng. Đối với bị cáo Chung, mặc dù trong quá trình điều tra, bị cáo không thừa nhận hành vi mua xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68 của các bị cáo P và T1, nhưng căn cứ vào lời khai của các bị cáo P, T1, T2 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đều thống nhất với nhau về việc giữa các bị cáo P, T1, T2 và bị cáo C1 trước khi xảy ra vụ án không có sự mâu thuẫn gì với nhau. Sau khi trộm được xe mô tô nêu trên, các bị cáo P, T1 và T2 đã đem đến nhà của bị cáo C1 để bán cho bị cáo C1, bị cáo P và bị cáo C1 thỏa thuận giá mua bán xe mô tô trên là 2.000.000 (hai triệu) đồng và bị cáo C2 đã thực hiện hành vi chuyển khoản số tiền 2.000.000 (hai triệu) đồng vào số tài khoản 00003528046 mở tại ngân hàng T4 do bị cáo P trực tiếp quản lý, sử dụng. Về mặc ý thức chủ quan của bị cáo Chung, khi mua xe mô tô nêu trên từ bị cáo P và bị cáo T1, bị cáo C2 không hỏi gì về giấy tờ đăng ký xe mô tô, bị cáo C2 chỉ mua xe mô tô nêu trên với giá 2.000.000 (hai triệu) đồng là thấp hơn rất nhiều lần so với trị giá của xe mô tô được định giá là 8.000.000 (tám triệu) đồng, do đó có thể khẳng định bị cáo C2 biết xe mô tô nêu trên do các bị cáo P, T1 phạm tội mà có. Do đó, căn cứ các tài liệu, chứng cứ, phân tích như đã nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo P, T1, T2 đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, hành vi của bị cáo C2 đủ các yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Các bị cáo P, T1, T2 và C2 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một truy tố các bị cáo P, T1, T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Lê Văn C1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi mà các bị cáo P, T1 và T2 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, các bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà các bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo P là người rủ rê bị cáo T1 thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Bị cáo T1 là người trực tiếp thực hiện vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Bị cáo T2 mặc dù P và T1 không trực tiếp rủ T2 lấy trộm xe mô tô trên nhưng T2 nghe và biết rõ là P rủ T1 cùng nhau lấy trộm xe mô tô nên, bị cáo T2 không ngăn cản mà cùng tham gia và đứng cảnh giới. Bị cáo P có nhân thân xấu, từng bị Tòa án xét xử về tội phạm với lỗi cố ý, bị cáo không biết tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội mới với lỗi cố ý. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nhân thân, tính chất, mức độ tham gia của từng bị cáo mà có mức hình phạt tương xứng, mức hình phạt đối với bị cáo P cao hơn mức hình phạt đối với bị cáo T1, mức hình phạt đối với bị cáo T1 cao hơn mức hình phạt đối với bị cáo T2.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo Chung là nguy hiểm cho xã hội. Bản thân bị cáo nhận thức rất rõ tài sản do người khác phạm tội mà có nhưng vì mục đích tư lợi nên bị cáo đã đồng ý mua với giá rẻ nhằm thu lợi bất chính. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, tiếp tay cho những hành vi phạm tội khác làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Bị cáo Nguyễn Tấn P: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Bùi Anh T1: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình nộp tiền bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Huỳnh Thị Hồng T2: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  • - Bị cáo Lê Văn C1: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Xét mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo P, T2 là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo T1, C1 là chưa phù hợp nên không được chấp nhận. Lời bào chữa của người bào chữa cho bị cáo C1 về việc đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo C1 không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Doan không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô của bị hại thì bên trong cốp xe có số tiền và vàng như bị hại đã trình bày, ngoài ra bị hại cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc, đặc điểm, số lượng vàng mà bị hại cho rằng các bị cáo đã lấy trộm của bị hại. Do đó, căn cứ lời khai của các bị cáo, các vật chứng mà cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử xác định tài sản mà các bị cáo P, T1 và T2 đã chiếm đoạt của bị hại là 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ-đen, biển số 61B1-574.68, trị giá 8.000.000 (tám triệu) đồng; bên trong cốp xe có số tiền 700.000 (bảy trăm nghìn) đồng; 01 (một) bóp da nữ màu nâu, trị giá 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng; 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, vàng 14K, trị giá 1.090.000 (một triệu không trăm chín mươi nghìn) đồng và 01 (một) sợi dây chuyền kim loại màu vàng mà P khai nhận bán được số tiền 2.300.000 (hai triệu ba trăm nghìn) đồng của bị hại Đào Thị D1. Tổng trị giá tài sản các bị can P, T1 và T2 chiếm đoạt của bị hại D1 là 12.160.000 (mười hai triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng. Tại phiên tòa, bị hại D1 yêu cầu các bị cáo P, T1 và T2 phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền bằng trị giá một chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius mới đang bán trên thị trường, đối với tiền và vàng mà bị hại đã bị lấy trộm vì bị hại D1 không chứng minh được nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Hội đồng xét xử xét thấy, ngày 10/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã giao trả 01 (một) bóp da nữ màu nâu trị giá 70.000 (bảy mươi nghìn) đồng và 01 (một) đôi bông tai màu vàng có đính hạt đá màu trắng, vàng 14K trị giá 1.090.000 (một triệu không trăm chín mươi nghìn) đồng cho bị hại D1. Do đó, chỉ có cơ sở để buộc các bị cáo bồi P, T1 và T2 phải liên đới bồi thường cho bị hại Doan số tiền 11.000.000 đồng là trị giá các tài sản bị các bị cáo chiếm đoạt của bị hại nhưng trong quá trình điều tra không thu hồi được. Vì vậy, yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại Doan chỉ được chấp nhận một phần, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về việc yêu cầu các bị cáo P, T1 và T2 phải liên đới bồi thường cho bị hại D1 số tiền 12.160.000 (mười hai triệu một trăm sáu mươi nghìn) đồng là chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

[9] Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S Note, màu đen thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung, màu vàng, thu giữ của bị cáo Huỳnh Thị Hồng T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y66, màu vàng thu giữ của bị cáo Bùi Anh T1 là tài sản cá nhân của P, T2, T1 không liên quan đến hành vi phạm tội trộm cắp tài sản mà bị cáo đã thực hiện, nhưng xét thấy cần giao cho Chi cục thi hành án hình sự thành phố T tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án cùng với số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bà Bùi Thị Mỹ C giao nộp để bồi thường thiệt hại cho bị hại D1 thay bị cáo Bùi Anh T1.

[10] Về án phí:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 136, Điều 260, khoản 4 Điều 328 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    2. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
  2. Về hình phạt:
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2023.

    2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;

      Xử phạt bị cáo Bùi Anh T1 01 (một) năm 02 (hai) tháng 23 (hai mươi ba) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2023 (bị cáo đã chấp hành xong).

      Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Bùi Anh T1 ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Hồng T2 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

    4. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm i khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 5 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự;

      Xử phạt bị cáo Lê Văn C1 06 (sáu) tháng 16 (mười sáu) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2024 (bị cáo đã chấp hành xong).

      Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Lê Văn C1 ngay tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 587, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2 liên đới bồi thường cho bị hại Đào Thị D1 số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng. Được khấu trừ vào số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bà Bùi Thị Mỹ C đã nộp thay bị cáo Bùi Anh T1 để bồi thường thiệt hại cho bị hại D1 (Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một mở tại Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền ngày 26/8/2024).

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

    Tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với:

    • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy Note, màu đen, màn hình bị bể, thân võ trầy nhiều thu giữ của bị cáo Nguyễn Tấn P; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu vàng, số Imei: 0357558/06/703462/5 thu giữ của Huỳnh Thị Hồng T2; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y66, màu vàng, số ID: 2016CP6709, màn hình bị bể, thân vỏ bị trầy nhiều thu giữ của Bùi Anh T1
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 172.24 ngày 23/8/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T).
    • - Số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng mà bà Bùi Thị Mỹ C đã nộp thay bị cáo Bùi Anh T1 để bồi thường thiệt hại cho bị hại D1
    • (Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã nộp tiền vào tài khoản của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Dầu Một mở tại Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền số CT-D: 260824.0050.000048 ngày 26/8/2024).
  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2, Lê Văn C1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2 phải liên đới chịu 550.000 (năm trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1; bị hại Đào Thị D1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Bùi Thị Mỹ C, Nguyễn Thị Kim V1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Các bị cáo Lê Văn C1, Huỳnh Thị Hồng T2 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Công an thành phố Thủ Dầu Một;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Khương Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn P, Bùi Anh T1, Huỳnh Thị Hồng T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger