Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 06 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Trần Văn Phước.

Dương Thị Tú Phương.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên toà: bà Nguyễn Út Em - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn N, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1978; tại: Huyện P, tỉnh Bạc Liêu; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Hữu T, sinh năm 1929 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1934; vợ: Phan Thị L, sinh năm 1975; con: 02 người, lớn sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 07/9/2023 bị công an P, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”, chưa được xóa; bị cáo bị khởi tố áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay.(Bị cáo có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn N: Ông Nguyễn Chí H là luật sư thuộc công ty L1 - Đoàn luật sư thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 08/02/2024, tại nhà của Nguyễn Minh T1Nguyễn Thị Kim N2 thuộc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu có 03 người nam tên H1, C, Ba (không rõ nhân thân, địa chỉ) đến nhà của anh T1 uống nước giải khát. Trong quá trình uống nước, tất cả rủ T1 chơi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền, T1 đồng ý và đi vào nhà lấy 02 bộ bầu cua (02 mảnh giấy có in hình Cá, T2, C1, G, N3, B và 06 hộp hình vuông có 06 mặt, mỗi mặt vuông tương ứng, in hình Cá, T2, C1, G, N3, B); 01 cái thau kim loại màu trắng, 01 cái dĩa kim loại màu trắng và đi ra phía sau nhà để thực hiện việc đánh bạc. Một lúc sau, Huỳnh Văn T3, bị cáo Lê Văn N, Nguyễn Thị Kim N2 đến tham gia cùng.

Hình thức đánh bạc như sau: Huỳnh Minh T4 là người làm cái, H1, C, Ba, bị cáo N, T3 (gọi chung là người chơi) và trực tiếp thắng thua với T4. Riêng Nguyễn Thị Kim N2 đặt tiền thắng thua với những người đặt cược còn lại (không xác định được ai). T4 dùng cái thau bằng kim loại màu trắng bỏ 03 hộp hình vuông 6 mặt, in hình con Cá; con Nai; con Cua; trái B; con T2; con Gà rồi đậy cái dĩa bằng kim loại màu trắng lại và lắc qua lại cho 03 hộp lăn bên trong cái thau; người chơi dùng tiền đánh bạc để vào hình in trên giấy ảnh con C2; con Nai; con Cua; trái B; con T2; con G và số tiền đánh bạc là do người chơi tự bỏ tiền ra thấp nhất 10.000 đồng và cao nhất 50.000 đồng. Khi người chơi đặt tiền xong, T4 mở cái dĩa ra, bên trong có chứa 03 hộp hình vuông mà mặt vuông nào có in hình được nằm trên mà trùng khớp với hình người chơi đặt tiền người chơi thắng, T4 phải trả tiền cho người chơi tương ứng với số tiền đặt, ngược lại T4 lấy tiền đặt của người chơi. Mỗi một hình tương ứng lật ở mặt trên là 01 lần thắng, nếu có 03 hình giống nhau cùng nằm ở mặt trên là thắng gấp 03 lần. Nguyễn Minh T1 trực tiếp làm cái được khoản 15 ván, không xác định thắng thua bao nhiêu tiền, số tiền sử dụng đánh bạc và tiền thắng trong quá trình đánh bạc được để tại chiếu bạc. Nguyễn Thị Kim N2 tham gia đánh bạc 02 ván, sử dụng số tiền 20.000 đồng tham gia đánh bạc và thua hết. Huỳnh Văn T3 tham gia đánh bạc 10 ván, sử dụng 100.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thắng được số tiền 40.000 đồng, khi bị kiểm tra đang đặt số tiền 10.000 đồng để tại chiếu bạc. Bị cáo Lê Văn N tham gia khoảng 05 ván, sử dụng 250.000 đồng vào mục đích đánh bạc, thua số tiền 40.000 đồng, khi Công an xã H đến kiểm tra bị cáo N đang đặt số tiền 10.000 đồng, chưa phân định thắng thua. Đến 14 giờ cùng ngày, Công an xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu tiến hành kiểm tra, phát hiện và lập biên bản Nguyễn Thị Kim N2, bị cáo Lê Văn NHuỳnh Văn T3 lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. Tạm giữ tại chiếu bạc số tiền 810.000 đồng cùng nhiều tang vật liên quan đến hành vi dánh bạc. Riêng Huỳnh Minh T4H1, C, Ba chạy thoát.

Qua xác minh, bị cáo Lê Văn N bị Công an P, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt hành chính vào ngày 07/9/2023 về hành vi “Đánh bạc trái phép”. Do đó, Công an xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu chuyển toàn bộ hồ sơ và tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Phước Long giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm:

Truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Văn N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn N mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 đến 18 tháng.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

Bị cáo Lê Văn N thống nhất quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát về các tình tiết giảm nhẹ, khung hình phạt bị cáo; bị cáo là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh khó khăn, bị cáo mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; số tiền bị cáo tham gia đánh bạc rất ít nên kính mong Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm án cho bị cáo, cho bị cáo xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 14 giờ, ngày 08/02/2024 Công an xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu phát hiện lập biên bản Nguyễn Thị Kim N2, Lê Văn N, Huỳnh Văn T3, Huỳnh Minh T4 và 03 người thanh niên tên H1, C, Ba có hành vi lắc bầu cua được thua bằng tiền, số tiền tham gia cá cược thấp nhất 10.000 đồng và cao nhất là 50.000 đồng tại phía sau nhà vợ chồng Huỳnh Minh T4 thuộc ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, tổng số tiền tham gia đánh bạc là 1.010.000 đồng. Ngày 07/9/2023 Lê Văn N bị Công an phường P, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc trái phép”, chưa được xóa.

Bị cáo Lê Văn N đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai khác và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự và đưa ra mức hình phạt là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Mặc dù, bản thân bị cáo đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự mà bị cáo lại tiếp tục đánh bạc. Do đó, cần có một mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra.

[2.3] Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; có cha, mẹ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên được áp dụng điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo Lê Văn N có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên Hội đồng xét xử xét thấy, không nhất thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà vẫn đạt được mục đích giáo dục, cải tạo. Việc không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội, cũng như không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì thế, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 2 nghị quyết số: 02/2018/NQ – HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và hướng dẫn về điều kiện cho hưởng án treo và nghị quyết số: 01/2022/NQ – HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, cho bị cáo Lê Văn N được hưởng án treo tạo điều kiện cho bị cáo sống và làm việc trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[2.4] Về vật chứng: áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái dĩa màu trắng bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01(một) cái thau màu trắng bằng kim loại, đã qua sử dụng 06 (sáu) hộp hình vuông có 6 mặt, trên mặt vuông có in ảnh con Cá, con Nai, con Cua, trái B, con T2, con Gà, đã qua sử dụng; 02 (hai) giấy có in ảnh con Cá, con Nai, con Cua, trái B, con T2, con Gà, đã qua sử dụng liên quan đến hành vi đánh bạc.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1.010.000 đồng.

[2.5] Đối với hành vi “Đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc bầu cua được thua bằng tiền” của Nguyễn Thị Kim N2, Huỳnh Văn T3, Nguyễn Minh T1 do tổng số tiền các đối tượng dùng vào mục đích đánh bạc là 1.010.000 đồng, các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, hành vi của các đối tượng trên không đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”, chỉ là hành vi vi phạm hành chính, Công an huyện P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính hành vi trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6] Đối với người tham gia đánh bạc tên H1, C, Ba qua điều tra chưa xác định được nhân thân, lý lịch nên chưa làm việc được nên không có căn cứ để truy tìm và không có căn cứ để xử lý, khi nào có căn cứ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.7] Án phí hình sự: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc”.

    Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 18 tháng, tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Lê Văn N cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật thi hành án hình sự.

    “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái dĩa màu trắng bằng kim loại, đã qua sử dụng; 01(một) cái thau màu trắng bằng kim loại, đã qua sử dụng 06 (sáu) hộp hình vuông có 6 mặt, trên mặt vuông có in ảnh con Cá, con Nai, con Cua, trái B, con T2, con Gà, đã qua sử dụng; 02 (hai) giấy có in ảnh con Cá, con Nai, con Cua, trái B, con T2, con Gà, đã qua sử dụng liên quan đến hành vi đánh bạc.

    (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long).

    Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 1010.000 đồng theo biên lai thu số 0001276 ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo Lê Văn N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm hình sự công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện KSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - CQĐT Công an huyện Phước Long;
  • - Phòng HSNVcông an huyện Phước Long;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ VĂN ĐẸP

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 09 tháng tù nhưng được hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger