Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 21/2024/HSST

Ngày: 06/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Điệp và bà Phạm Thị Ngọc Huế.

-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Tứ- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Dương Phước An- Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2024/HSST ngày 19 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QĐXXST-HS ngày 02/5/2024, đối với bị cáo:

Phạm Thị H; sinh ngày 24/01/1998 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nữ; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn D và bà Lê Thị Mỹ H1; chồng: Nguyễn Đức H2, sinh năm 1994; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 30/11/2023 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Chị Trần Thị Uyên P, sinh năm 1983; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Lê H3, sinh năm 1981; nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  2. Anh Trương Trung H4, sinh năm 1999; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  3. Bà Lê Thị Mỹ H1, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

Người làm chứng:

  1. Anh Phan Gia H5, sinh năm 2000; nơi cư trú: Tổ dân phố V, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  2. Chị Hồ Thị B, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên Phạm Thị H nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của chị Trần Thị Uyên P, bằng cách H chủ động liên hệ với chị P giả vờ hỏi thuê xe môtô với giá 120.000 đồng/ngày, rồi H đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Cụ thể:

Vào ngày 04/3/2023, H nhắn tin, điện thoại cho chị P hỏi thuê xe môtô trong thời hạn 04 ngày với giá 120.000 đồng/ngày và được chị P đồng ý. H nhờ bạn là Hồ Thị B chở đến nhà chị P để lấy xe. Tại đây, B dừng xe phía ngoài đường chờ còn H một mình đi bộ vào nhà chị P lấy 01 xe môtô hiệu Vision biển số 74F1-112.53. Sau khi có được xe, H nói với B là xe của chị cho H mượn rồi cùng B chạy về thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế ngồi uống cà phê. Sau đó, H gọi điện cho bạn là Phan Gia H5 tới chơi. Tại quán cà phê, H nói với H5 là xe của chị gái cho H mượn và nhờ H5 tìm giúp địa điểm để H cầm xe. Hãi tin tưởng nên liên lạc với bạn là Trương Trung H4 nhờ giúp đỡ nhưng H4 không đồng ý vì không quen biết H. H5 nói lại cho H biết sự việc rồi đi về nhà. Cùng ngày, H đến gặp H4 để cầm xe nhưng H4 không đồng ý nên H ra về. Ngày 05/3/2023, H chủ động đến gặp H4 nhờ cầm xe, sau khi H năn nỉ và đề nghị cho cầm xe vài ngày sẽ đến lấy lại nên H4 đồng ý. H4 giữ lại 01 xe môtô hiệu Vision biển số 74F1-112.53 để làm tin, không viết giấy tờ thỏa thuận và đưa cho H số tiền 5.000.000 đồng. Số tiền này, H tiêu xài cá nhân hết.

Với thủ đoạn như trên, khoảng 11 giờ 00 ngày 06/3/2023, H chủ động liên hệ với chị P để hỏi thuê xe môtô khác trong thời hạn 02 ngày với giá 120.000 đồng/ngày thì chị P đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 00 cùng ngày, H nhờ B chở đến nhà chị P để lấy 01 xe môtô hiệu Airblade biển số 74F1- 210.59. Sau đó H cùng B chạy về thị trấn S, huyện Q. Tại đây, H điện thoại cho Phan Gia H5 nhờ tìm giúp địa điểm để H cầm xe. Hãi không trực tiếp gặp H mà liên lạc với Trương Trung H4 nhờ giúp đỡ. Sau đó, H đến gặp H4 và đề nghị cho H cầm vài ngày sẽ đến lấy lại nên H4 đồng ý giữ lại 01 xe môtô hiệu Airblade biển số 74F1- 210.59 để làm tin nhưng không viết giấy tờ thỏa thuận và đưa cho H số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền này, H tiêu xài cá nhân hết.

Đến ngày 08/3/2023 là hết hạn trả xe và tiền thuê nhưng H không thực hiện việc chuyển tiền cọc, không trả tiền thuê xe và không trả lại xe như đã hứa hẹn với chị P. Chị P sau nhiều lần liên lạc yêu cầu H trả lại xe cho mình nhưng H vẫn không thực hiện và sau đó bỏ trốn khỏi địa phương nên chị P đã trình báo vụ việc đến cơ quan chức năng.

Đầu tháng 4/2023, bà Lê Thị Mỹ H1 là mẹ ruột của H cùng H đến nhà Trương Trung H4 chuộc lại 01 xe môtô hiệu Airblade, biển số 74F1- 210.59 trả lại cho chị P. Còn 01 xe môtô hiệu Vision biển số 74F1-112.53, H4 tự nguyện giao nộp Cơ quan điều tra để phục vụ điều tra giải quyết vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 33/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H kết luận 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Airblade, màu đen đỏ, biển số 74F1- 210.59 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 06/3/2023 có giá trị là: 20.910.000 đồng.

Tại Bản kết luận giám định số 34/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H kết luận 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Vison, màu đỏ, biển số 74F1-112.53 tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 04/3/2023 có giá trị là: 8.670.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Vison, màu đỏ biển số 74F1-112.5, đã qua sử dụng do Trương Trung H4 giao nộp.

Xử lý vật chứng: Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả cho chủ sở hữu là anh Lê H3 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Vison, màu đỏ, biển số 74F1-112.53. Anh H3 nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý tài sản bằng hình thức trả cho chủ sở hữu là anh Lê H3 01 xe môtô nhãn hiệu Honda loại Vison, màu đỏ biển số 74F1-112.53. Anh H3 nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.

Về trách nhiệm dân sự: chị P yêu cầu H bồi thường số tiền 2.000.000 đồng, H đã bồi thường số tiền trên và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Anh Trương Trung H4 yêu cầu H bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, hiện H vẫn chưa bồi thường.

Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSHTr ngày 16/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Phạm Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Thị H từ 09 tháng đến 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Về bồi thường thiệt hại: Do bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét; buộc bị cáo bồi thường cho anh Trương Trung H4 số tiền 5.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo Phạm Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận:

Trong các ngày 04 và 05 tháng 3 năm 2023, tại tổ dân phố B, phường H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Phạm Thị H đã có hành vi giả vờ hỏi thuê xe mô tô của chị Trần Thị Uyên P để đi lại, sau đó chiếm đoạt 01 xe môtô hiệu Airblade biển số 74F1- 210.59 có giá trị 20.910.000 đồng và 01 xe môtô hiệu Vision biển số 74F1-112.53 có giá trị 8.670.000 đồng, đem đi cầm cố cho Trương Trung H4. Tổng giá trị tài sản mà Phạm Thị H chiếm đoạt là 29.580.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Phạm Thị H có ý thức chiếm đoạt tài sản từ trước, sau đó bằng thủ đoạn gian dối để người khác tin tưởng giao tài sản và chiếm đoạt của họ. Tài sản bị cáo chiếm đoạt trong vụ án này có giá trị 29.580.000 đồng, nên đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Phạm Thị H là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Khi thực hiện tội phạm, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng nên bị cáo phạm vào tình tiết tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác theo quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:

Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương; trong thời gian ngắn, bị cáo liên tiếp thực hiện 02 lần phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật, do đó cần phải có hình phạt thích đáng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, mặc dù bị cáo thực hiện hành vi phạm tội 02 lần nhưng các lần phạm tội đều là tội phạm ít nghiêm trọng; bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này chưa từng vi phạm pháp luật nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ và tính chất mức độ hành vi phạm tội, hoàn cảnh nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo có thể tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, là phù hợp, tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục nuôi con nhỏ, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và pháp luật.

[6] Đối với hành vi của anh Phan Gia H5 và chị Hồ Thị B là những người dẫn H đi cầm cố xe mô tô nhưng không biết xe do H phạm tội mà có nên không đồng phạm với H và không phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhắc nhở rút kinh nghiệm là đúng quy định pháp luật.

[7] Đối với hành vi của anh Trương Trung H4 không biết xe mô tô mình nhận cầm cố do bị cáo phạm tội mà có, nên không đủ yếu tố cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điều 323 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không khởi tố xử lý hình sự là đúng. Tuy nhiên, H4 không có giấy phép kinh doanh ngành, nghề có điều kiện mà vẫn cầm cố tài sản và tài sản không có giấy tờ chứng minh chủ sở hữu là vi phạm pháp luật hành chính về hành vi kinh doanh dịch vụ cầm đồ theo quy định tại Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Do đó, cần kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra rút kinh nghiệm.

[8] Đối với ý kiến của bị cáo tại phiên tòa cho rằng bị cáo đã bồi thường cho anh Trương Trung H4 số tiền 5.000.000 đồng. Do bị cáo không có chứng cứ gì chứng minh việc đã bồi thường cho anh H4, mặt khác anh H4 vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ, biển kiểm soát 74F1-112.53, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Trần Thị Uyên P yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 2.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường. Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Anh Trương Trung H4 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 5.000.000 đồng là tiền do bị cáo nhận khi cầm cố xe mô tô. Nhận thấy hành vi cầm cố của anh H4 mặc dù vi phạm pháp luật hành chính, tuy nhiên đây là số tiền anh H4 đưa cho bị cáo chứ không phải là khoản tiền thu lợi bất hợp pháp nên cần buộc bị cáo phải trả lại cho anh H4 số tiền này.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Xử phạt: Phạm Thị H 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án.

    Giao bị cáo Phạm Thị H cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Phạm Thị H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Phạm Thị H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
  4. Buộc bị cáo phải bồi thường cho bồi thường cho anh Trương Trung H4 số tiền 5.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2004; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Phạm Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TTHuế, VKSND tỉnh TTHuế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • - Công an thị xã Hương Trà;
  • - VKSND thị xã Hương Trà;
  • - THA HS, THA DS;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;Người CQLNVLQ
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LĐCĐTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger