Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC QUANG

TỈNH HÀ GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03 - 6 - 2024

"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Hải Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lăng Đức Quang

Bà Nguyễn Thị Lam

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Chữ - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang và bà Nông Thị T - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Mai Thắm - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Chương Thị H, sinh năm 1987; (vắng mặt)

Trú tại: Đ, thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang

- Bị đơn: Anh Trương Văn H1, sinh năm1987; (vắng mặt)

Trú tại: Đ, thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 30/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Chương Thị H trình bày: chị và anh H1 chung sống với nhau từ năm 2006 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B, tỉnh Hà Giang vào ngày 13/11/2006 theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến khoảng tháng 9 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh H1 thường xuyên cờ bạc, rượu chè. Chị và người thân trong gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H1 không nghe mà còn đánh đập chị. Mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và anh chị đã sống ly thân được 02 năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn gì, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên chị H đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bắc Quang giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trương Văn H1. Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Trương Thúy H2, sinh ngày 04/01/2007, cháu Trương Thúy D, sinh ngày 17/09/2013. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cả hai cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Trương Văn H1 trình bày tại bản tự khai: anh và chị H yêu nhau và kết hôn năm 2006, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc và có 02 con chung là cháu Trương Thúy H2Trương Thúy D. Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau, nguyên nhân do kinh tế khó khăn, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay. Hiện nay chị H xin ly hôn anh H1 không đồng ý vì các con còn nhỏ đồng thời bản thân anh H1 vẫn thương vợ nên không muốn ly hôn. Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung là cháu Trương Thúy H2, sinh ngày 04/01/2007, cháu Trương Thúy D, sinh ngày 17/09/2013. Do anh H1 không nhất trí ly hôn nên anh không trình bày nguyện vọng về nuôi con. Về tài sản chung, có 03 cái ao, 01 vườn bồ đề, 01 vườn keo và 01 căn nhà sàn bê tông 03 gian lợp lá cọ, 01 bếp bê tông. Hiện chưa có sổ bìa đỏ đứng tên hai vợ chồng nên anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về công nợ chung, anh H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án đã Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên anh Trương Văn H1 không có mặt để tham gia tố tụng, do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án.

Tại các biên bản xác minh của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang với trưởng thôn Nhạ; công chức tư pháp UBND xã Đ; Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Đ, anh Trương Quang T1 là em trai ruột chị Chương Thị H, Phó Trưởng công an xã Đ phản ánh về tình trạng hôn nhân của chị Chương Thị H và anh Trương Văn H1 như sau: chị Chương Thị H và anh Trương Văn H1 tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2006 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện B theo quy định. Sau khi kết hôn anh H1 đến ở rể ở xã Đ, hiện anh H1 cư trú tại thôn N, xã Đ. Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H1 hay rượu chè, không tu chí làm ăn, gia đình đã nhắc nhở nhiều nhưng anh H1 không sửa đổi, dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt, anh chị đã sống ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Về con chung, quá trình chung sống anh chị có 02 con là cháu Trương Thúy H2, sinh ngày 04/01/2007, cháu Trương Thúy D, sinh ngày 17/09/2013, các cháu hiện do mẹ và ông bà ngoại chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu vợ chồng ly hôn, nên giao hai cháu cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn, do anh H1 là người thường xuyên rượu chè, không tu chí làm ăn nên không có điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng các cháu.

Tại các biên bản lấy lời khai cháu Trương Thúy H2 và cháu Trương Thúy D ngày 25/03/2024, cả hai cháu đều có nguyện vọng được ở với mẹ vì các cháu là con gái thích ở với mẹ hơn và bố các cháu không quan tâm đến các cháu bằng mẹ các cháu.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã thực hiện đúng quy định của pháp luật; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Chương Thị H được ly hôn anh Trương Văn H1. Về con chung: quá trình chung sống anh chị có 02 con là cháu Trương Thúy H2, sinh ngày 04/01/2007, cháu Trương Thúy D, sinh ngày 17/09/2013. Đề nghị Hội đồng xét xử giao các cháu Trương Thúy H2Trương Thúy D cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí: nguyên đơn là chị Chương Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn là chị Chương Thị H có đơn khởi kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với bị đơn là anh Trương Văn H1, anh Trương Văn H1 có nơi cư trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang.
  2. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Chương Thị H vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Trương Văn H1 vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị Chương Thị H và anh Trương Văn H1.
  3. [3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Chương Thị H và anh Trương Văn H1 xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống đến khoảng tháng 9 năm 2020 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H1 hay rượu chè, không tu chí làm ăn, vợ chồng bất đồng quan điểm sống và tính cách. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị Chương Thị H có yêu cầu ly hôn anh Trương Văn H1. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Chương Thị H được ly hôn anh Trương Văn H1.
  4. [4] Về việc nuôi con: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con là cháu Trương Thúy H2, sinh ngày 04/01/2007, cháu Trương Thúy D, sinh ngày 17/09/2013. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy rằng, anh H1 không trình bày ý kiến đề nghị giải quyết việc nuôi con; cả hai cháu Trương Thúy H2Trương Thúy D đều có nguyện vọng được ở với mẹ. Mặt khác, tại các biên bản xác minh điều kiện nuôi con với người thân và chính quyền địa phương cung cấp trường hợp vợ chồng ly hôn nên giao cả hai cháu cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng sẽ có điều kiện chăm sóc tốt hơn. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cả hai cháu Trương Thúy H2Trương Thúy D cho chị Chương Thị H trực tiêp nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị Chương Thị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết, anh Trương Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  5. [5] Về chia tài sản chung và công nợ chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
  6. [6] Về án phí: nguyên đơn chị Chương Thị H là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Chương Thị H được ly hôn anh Trương Văn H1.
  2. Về việc nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trương Thúy H2, sinh ngày 04/01/2007 và cháu Trương Thúy D, sinh ngày 17/09/2013. Khi ly hôn chị Chương Thị H được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Trương Thúy H2 và cháu Trương Thúy D cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, anh Trương Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung chị H, anh H1 có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
  3. Về án phí: Chị Chương Thị H được miễn án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo luật định.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Quang;
  • - UBND xã Tân Thành, huyện Bắc Quang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Hải Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn H-H2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger