|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-ST.
Ngày: 26-02-2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di
+ Bà Nguyễn Thị Bích Lam
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa:
Ông Hứa Hải Dương – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tô Ngọc Q; Giới tính: Nam; sinh ngày: 01/10/2000, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi thường trú: thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Chỗ ở hiện nay: Khu phố E và khu phố F, thị trấn L, huyện T. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: buôn bán; Cha: Tô Ngọc B; sinh năm 1982 và mẹ: Nguyễn Thị Ngọc V; sinh năm 1983; A, chị, em ruột: có 03 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2020; Vợ: Lê Thị Mỹ T, sinh năm 2003; Con: 02 người, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án; tiền sự: không.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn B1; Giới tính: Nam; sinh ngày: 02/7/1993, tại tỉnh Bình Thuận; Nơi cư trú: thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm biển Cha; Lê Văn H; sinh năm 1973 (đã chết) và mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; A, chị, em ruột: có 03 người, lớn sinh năm 1989, nhỏ sinh năm 1991; Vợ: Trương Thị Bé M; sinh năm 1996 (không đăng ký kết hôn); Con: 01 người, sinh năm 2020; Tiền án; tiền sự: không
3. Họ và tên: Nguyễn Văn T1; Giới tính: Nam; sinh ngày: 19/9/2001, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Làm biển; Cha: Nguyễn P; sinh năm 1972 và mẹ: Trần Thị L; sinh năm 1975; A, chị, em ruột: có 05 người, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2003; Vợ; con: chưa có; Tiền án; tiền sự: không.
Bị cáo Q, B1 và T1 đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 7/2024, Q đi vào thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua ma túy mang về bán mục đích kiếm lời. Khi đến bến xe M cũ thì Q gặp một người thanh niên đeo khẩu trang (không rõ lai lịch) đến hỏi Q mua ma túy không thì Q đồng ý mua với giá 7.000.000 đồng gồm 05 gói ma túy dạng khay và 04 viên ma túy loại kẹo. Q mang ma túy về nhà tại thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận để cất giấu và bán cho người nghiện.
Đến khoảng 23 giờ 00 ngày 17/8/2024, T1 đang ở nhà tại thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì B1 gọi điện thoại cho T1 rủ sang nhà bạn của B1 tại khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận để nhậu và rủ tìm mua ma túy sử dụng. T1 nói với B1 là T1 có quen một người bán ma túy tại thị trấn L và sẽ liên hệ mua ma túy nợ lại tiền đến khi nào có thì B1 hùn một nửa số tiền mua ma túy để đưa cho T1 trả thì B1 đồng ý. Tưởng sử dụng Messenger của T1 tên “Tưởng N1” gọi vào Messenger tên “Ngọc Quý” của Tô Ngọc Q hỏi mua 03 viên ma túy loại Kẹo và 01 gói ma túy loại Khay thi Q thông báo số tiền là 3.100.000 đồng. Tưởng nói nợ tiền khi nào có sẽ trả sau thì Q đồng ý. Sau đó, T1 một mình đi từ nhà đến nhà trọ tại thị trấn L theo chỉ dẫn của B1. Khi đến nơi, B1 đi ra trước nhà gặp T1, T1 đưa điện thoại của T1 cho B1 giữ để liên hệ với Q nhận ma túy. Sau đó T1 đi vào bên trong nhà cùng ngồi nhậu với bạn của B1 để đợi B2 đi mua ma túy về. Lúc này, B1 đi đến khu vực chợ S thuộc khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận để gặp Q. Khi gặp Q thì B2 nói đi lấy ma túy cho T1 nên Q đưa cho B1 01 cuộn giấy màu trắng, bên trong có 03 viên ma úy dạng kẹo và 01 gói ma túy dạng khay. Bơi mang ma túy quay về lại nhà trọ cùng ngồi nhậu với T1 được khoảng một tiếng sau thì T1 và B1 đi tìm nơi sử dụng. Khi vừa ra về thì B1 lấy trong người ra một gói giấy màu trắng được cuộn tròn, bên trong có 03 viên nén màu vàng giống nhau là ma túy loại Kẹo và 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Khay đưa cho T1 cất giữ. Nhận ma túy từ B1 xong, T1 cất giấu vào bên trong túi quần phía sau bên trái của T1 đang mặc. Khoảng 01 giờ 10 ngày 18/8/2024 khi đang đi bộ đến khu vực phía trước cổng bến xe M thuộc khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì T1 nhìn thấy lực lượng Công an đến kiểm tra. Do lo sợ bị phát hiện nên T1 đã dùng tay trái lấy gói giấy màu trắng được cuộn tròn, bên trong có 03 viên ma túy loại Kẹo và
01 gói nylon bên trong có chứa ma túy loại Khay đang cất giấu trước đó bên trong túi quần phía sau bên trái của T1 đang mặc thả xuống dưới mặt đường nhựa về phía sau bên trái tại vị trí T1 đang đứng thì bị phát hiện bắt quả tang thu giữ tang vật chứng. Thu giữ dưới mặt đường nhựa cách vị trí T1 đang đứng về phía sau bên trái khoảng 01m có một gói giấy màu trắng được cuộn tròn, kiểm tra bên trong gói giấy có 03 viên nén màu vàng giống nhau (giám định ký hiệu M1) và 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (giám định ký hiệu M2). T1 và B1 khai nhận 03 viên nén màu vàng là ma túy loại kẹo và chất tinh thể màu trắng bên trong 01 gói nylon là ma túy loại khay của T1 và B1 vừa mua được mục đích đi tìm nơi sử dụng. Khi nhìn thấy Công an đến kiểm tra, do sợ bị phát hiện nên T1 đã dùng tay trái lấy gói giấy có ma túy từ túi quần phía sau bên trái của T1 đang mặc thả ra phía sau thì bị phát hiện bắt quả tang; Thu giữ của T1 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh; Thu giữ của B1 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh. Ngoài ra không thu giữ gì thêm. Do điều kiện khách quan không đảm bảo cho việc lập biên bản nên tổ công tác tiến hành thu giữ tang vật, đưa T1 và B1 về trụ sở làm việc.
Quá trình làm việc Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 khai nhận ma túy có được do mua của Tô Ngọc Q, sinh năm 2000, cư trú tại thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ lời khai của T1 và B1, cơ quan cảnh sát điều tra mời Q để làm việc, Q khai nhận đã bán ma túy cho T1 và tiến hành ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Q, thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám có gắn sim thuê bao 0364928239, lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Q tại khu phố E và khu phố F, thị trấn L, huyện T. Qua khám xét thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án gồm:
- Thu giữ tại nơi ở của Q thuộc khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận tại vị trí trên giá treo quần áo bên trong phòng ngủ của Tô Ngọc Q:
- + Bên trong ống tay áo bên phải của áo khoác màu hồng treo trên giá có 01 hộp nhựa hình tròn có nắp đậy màu đỏ, bên trong có 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. (niêm phong ký hiệu số 01, giám định ký hiệu M3)
- + Bên trong túi áo phía trước bên trái của áo sơmi màu xám vàng đen treo trên giá có 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu số 02, giám định ký hiệu M4).
- + Bên trong túi quần phía trước bên phải của quần đùi nữ màu trắng có dòng chữ “PARDA MANO” đặt trên kệ của giá treo quần áo có 01 mảnh giấy màu trắng được gấp lại, bên trong có 01 viên nén màu vàng. (niêm phong ký hiệu số 03, giám định ký hiệu M5)
+Thu giữ tại nơi ở của Q thuộc khu phố F, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận: 01 hộp giấy hình vuông có nắp đậy màu trắng, kích thước (10x10)cm (niêm
phong số 06), cao 4,5cm, bên trong có 02 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, có kích thước khác nhau là (04x03)cm (niêm phong ký hiệu số 05, giám định ký hiệu M6) và (03x03)cm, bên trong 02 gói nylon trên có chứa chất tinh thể màu trắng. (niêm phong ký hiệu số 05, giảm định ký hiệu M7).
Tại bản kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 26.8.2024 của phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận:
- - Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng là 1,1281 gam, chứa amphetamine, T (MDA), MDMA.
- - Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 1,4325 gam; là Ketamie.
- - Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,3495 gam, là Methamphetamine.
- - Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 1,4543 gam; là Ketamie.
- - Mẫu M5 gửi giám định có khối lượnG 0,3812 gam, chứa amphetamine Tenamfetamine (MDA), MDMA.
- - Mẫu M6 gửi giám định có khối lượng 0,3903 gam, là K.
- - Mẫu M7 gửi giám định có khối lượng 0,8825 gam, là Methamphetamine.
H1 lại đối tượng giám định: Trong quá trình giám định mẫu M1 đã được phân tích hết. 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03 × 03)cm có 1,3556 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm; 0,2837 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 1,3779 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B. Trong quá trình giám định mẫu M5 đã được phân tích hết; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (04x03)cm, 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 0,3261 gam mẫu M6 và 0,8135 gam mẫu M7 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/4 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
Về tang vật chứng: Đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong tạm giữ gồm:
- - 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03 × 03)cm có 1,3556 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm
phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm; 0,2837 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 1,3779 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B. Trong quá trình giám định mẫu M5 đã được phân tích hết; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (04x03)cm, 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 0,3261 gam mẫu M6 và 0,8135 gam mẫu M7 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/4 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
- - 01 gói giấy màu trắng được cuộn tròn; 01 hộp nhựa hình tròn có nắp đậy màu đỏ và 01 mảnh giấy màu trắng; 01 hộp giấy hình vuông có nắp đậy màu trắng, kích thước 10cm x 10cm x 4,5cm.
- - 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Tưởng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh thu giữ của B1 và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của Q.
Tại Bản Cáo trạng số 10/CT-VKSTP-HS, ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Tô Ngọc Q về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi; bổ sung năm 2017); Nguyễn Văn B1, Nguyễn Văn T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- + Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Tô Ngọc Q từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B1 từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Áp dụng: Điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03 × 03)cm có 1,3556 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm; 0,2837 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 1,3779 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (04x03)cm, 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 0,3261 gam mẫu M6 và 0,8135 gam mẫu M7 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/4 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B và 01 gói giấy màu trắng được cuộn tròn; 01 hộp nhựa hình tròn có nắp đậy màu đỏ và 01 mảnh giấy màu trắng; 01 hộp giấy hình vuông có nắp đậy màu trắng, kích thước 10cm x 10cm x 4,5cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Tưởng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của Q.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh thu giữ của B1 cho Nguyễn Văn B1.
Đối với người thanh niên tại khu vực bến xe M, thành phố Hồ Chí Minh đã bán ma túy cho Q do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
- Bị cáo Tô Ngọc Q, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 thừa nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố và việc truy tố bị cáo là đúng, không oan. Bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Tô Ngọc Q, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và biên bản phạm tội quả tang, đã làm rõ: Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 là đối tượng nghiện ma túy. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T1 và B1 thống nhất hùn tiền để mua ma túy do Tô Ngọc Q bán mục đích để sử dụng. Vì vậy, đến khoảng 23 giờ ngày 17/8/2024 tại khu vực chợ S thuộc khu phố G, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận Tô Ngọc Q đã bán 01 gói ma túy gồm 03 viên ma túy dạng kẹo và 01 gói ma túy dạng khay cho Nguyễn Văn B1 và Nguyễn Văn T1. Đến khoảng 01 giờ 10 phút ngày 18/8/2024 khi Nguyễn Văn B1 và Nguyễn Văn T1 đang đi bộ kiếm chỗ để sử dụng ma túy đến khu vực phía trước cổng bến xe M thuộc khu phố E, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì lực lượng Công an đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Thu giữ 01 gói ma túy gồm 03 viên ma túy dạng kẹo và 01 gói ma túy dạng khay của Nguyễn Văn B1 và Nguyễn Văn T1 có khối lượng ma túy qua giám định là 1,1281 gam chứa amphetamine T4 (MDA), MDMA và 1,4325 gam là K mục đích tàng trữ để sử dụng. Ngoài ra, tại nơi ở của Tô Ngọc Q tại thị trấn L, huyện T, tỉnh Bình Thuận thì còn thu giữ tổng khối lượng ma túy của Tô Ngọc Q là 1,2320 gam là Methamphetamine, 3,2771 gam là Ketamine và 1,5093 gam Amphetamine, T3, MDMA có tổng tỷ lệ phần trăm là 48,57% (dưới 100%) mục đích để Q bán kiếm lời. (Tại bản kết luận giám định số 1015/KL-KTHS ngày 26-8-2024 của phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận).
Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Tô Ngọc Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo Nguyễn Văn B1 và Nguyễn Văn T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
[3] Các bị cáo Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 cùng thống nhất ý chí thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự phân công, câu kết chặt chẽ nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó Nguyễn Văn B1 và Nguyễn Văn T1 đã thống nhất
hùn tiền cùng mua ma túy của Tô Ngọc Q để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm hình sự chung về hành vi, hậu quả gây ra.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Tô Ngọc Q, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 là người đã trưởng thành nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo Q nhận biết hành vi lén lút mua ma túy để bán trái phép cho các đối tượng nghiện là xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do muốn thu lợi bất chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 nhận biết hành vi lén lút cất giấu ma túy để sử dụng là trái pháp luật, xâm phạm đến nguyên tắc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy nhưng do bị nghiện nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Ketamine và amphetamine T4 (MDA), MDMA là chất gây nghiện, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và sức khỏe của người sử dụng nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của mình mà bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm, không những tiếp tay cho các tệ nạn xã hội mà còn làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho gia đình và cộng đồng dân cư.
[5] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
[6] Xử lý vật chứng:
- Đối với toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định bao gồm: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03 × 03)cm có 1,3556 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm; 0,2837 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 1,3779 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm
phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (04x03)cm, 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 0,3261 gam mẫu M6 và 0,8135 gam mẫu M7 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/4 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B và 01 gói giấy màu trắng được cuộn tròn; 01 hộp nhựa hình tròn có nắp đậy màu đỏ và 01 mảnh giấy màu trắng; 01 hộp giấy hình vuông có nắp đậy màu trắng, kích thước 10cm x 10cm x 4,5cm. Xét thấy đây là vật không có giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Đ a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của Tô Ngọc Q. Xét thấy đây phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước quy định tại a khoản 1 Điều 46; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Đ a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh thu giữ Nguyễn Văn B1. Xét thấy đây là tài sản của bị cáo B1 không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn B1 quy định tại c khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là phù hợp.
[7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người thanh niên tại khu vực bến xe M, thành phố Hồ Chí Minh đã bán ma túy cho Q do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[8] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và xử lý vật chứng là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Bị cáo Tô Ngọc Q; Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Tuyên bố: Bị cáo Tô Ngọc Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Tô Ngọc Q 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18-8-2024.
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18-8-2024.
Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18-8-2024.
Áp dụng: Điểm a, b khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm: 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03 × 03)cm có 1,3556 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/1 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm; 0,2837 gam mẫu M3 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/2 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 1,3779 gam mẫu M4 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/3 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (04x03)cm, 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp khóa một đầu viền màu xanh, kích thước (03x03)cm có 0,3261 gam mẫu M6 và 0,8135 gam mẫu M7 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 1015/4 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T2 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B và 01 gói giấy màu trắng được cuộn tròn; 01 hộp nhựa hình tròn có
nắp đậy màu đỏ và 01 mảnh giấy màu trắng; 01 hộp giấy hình vuông có nắp đậy màu trắng, kích thước 10cm x 10cm x 4,5cm.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu xanh thu giữ của Tưởng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 15 Promax màu xám thu giữ của Q.
Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh thu giữ của B1 cho Nguyễn Văn B1.
(Tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện T với Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong ngày 07/01/2025).
Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.
Buộc bị cáo Tô Ngọc Q; Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (26-02-2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kiêm Uyên |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Tô Ngọc Q phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Văn B1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Tô Ngọc Q 04 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18-8-2024. Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18-8-2024. Áp dụng: Điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn B1 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 18-8-2024.
