Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN CHẤN

TỈNH YÊN BÁI

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 13-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Nguyễn Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Cao Trường Giang.
  • 2. Ông Đỗ Văn Bách.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Mai Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn tham gia phiên tòa: Ông Lưu Thượng Thống - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Văn T (tên gọi khác không), sinh ngày 17/10/1988, tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

    Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn C, sinh năm 1968 và bà Hà Thị H, sinh năm 1970; bị cáo có vợ đã ly hôn là Hà Như H1, sinh năm 1985 và 2 con (con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/12/2023, tạm giam ngày 21/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.

  2. Phạm Hoàng N (tên gọi khác không), sinh ngày 06/01/1980, tại huyện V, tỉnh Yên Bái.

    Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình P, sinh năm 1940 và bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1949; bị cáo có vợ là Hà Thị D, sinh năm 1988 và 1 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 06/03/2018 bị Toà án nhân dân huyện Văn Chấn quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số: 04/QĐ-TA), ngày 23/3/2019 chấp hành xong.

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/12/2023, tạm giam ngày 21/12/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Hà Như H1, sinh năm 1985, trú tại thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984, đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ G, phường V, quận L, thành phố Hà Nội. Tạm trú: Thôn C, xã C, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 15 phút, ngày 18/12/2023, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện V phối hợp với Công an xã T, huyện V đang làm nhiệm vụ tại thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái phát hiện, bắt quả tang Hoàng Văn T, sinh năm 1988, trú tại xã C là người điều khiển xe mô tô biển số 21V8-9485, chở phía sau là Phạm Hoàng N, sinh năm 1980, trú tại xã Đ và Vũ Thanh T2, sinh năm 1988, trú tại xã C huyện V, tỉnh Yên Bái đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái T đang mặc 01 gói nilon màu trắng, tại túi quần phía sau bên phải 01 gói giấy trắng có dòng kẻ, tại túi quần phía sau bên trái 01 gói giấy trắng có dòng kẻ, bên trong 03 gói trên đều chứa chất bột nén màu trắng (nghi là H2), tại túi quần phía trước bên phải có 01 xi lanh loại 3ml/cc và 01 điện thoại MOBELL. Thu giữ tại túi quần phía sau bên phải N đang mặc có 01 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi là H2), tại túi áo khoác bên phải 01 xi lanh loại 3ml/cc. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải T2 đang mặc có 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng. Khai thác tại chỗ, Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N khai chất bột nén màu trắng đều là heroine.

Cơ quan Công an tiến hành tạm giữ Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N cùng các đồ vật gồm 04 gói chứa chất bột nén, 03 xi lanh, 01 điện thoại MOBELL, 01 xe mô tô biển số 21V8-9485 đưa về trụ sở để điều tra.

Quá trình điều tra, Hoàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 18/12/2023, T đang ở nhà thì có Phạm Hoàng N đến hỏi mua Heroine để sử dụng nhưng tại nhà T không còn heroine nên T và N cùng rủ nhau đi mua heroine. Sau khi thống nhất xong, T lấy xe chở N đến nhà Vũ Thanh T2, cũng là người nghiện ma túy. T rủ T2 cùng đi sử dụng ma túy và được T2 đồng ý. Khi T, N, T2 đi đến dốc Mèn thuộc thôn C, xã C thì T gặp người quen, có tên là C1 cư trú tại thôn B, xã C, Chợ nhờ T mua hộ 500.000 đồng Heroine. Do T đang điều khiển xe nên T nhờ N cầm hộ tiền của C1. Khi đi đến khu vực ngã ba C thì T dừng xe đổ xăng, lúc đó T2 tự nguyện trả tiền xăng và đi mua 03 xi lanh. Cả ba đi đến khu vực dốc B, thuộc thôn V, xã C thì T bảo N và T2 đứng đợi, N đưa cho T 800.000 đồng, trong đó có 500.000 đồng của C1 và 300.000 đồng của N. Sau đó T một mình đi thêm khoảng 40 mét nữa và gặp 01 người đàn ông có tên Trần Văn T3, T mua của T3 02 gói Heroine với giá 800.000 đồng. Sau khi mua được H2, T đưa cho N 01 gói, N lấy ra một ít sử dụng và lấy 1 ít đưa cho T2 sử dụng, gói còn lại T lấy ra một ít sử dụng và cũng đưa cho T2 một ít để T2 sử dụng, số heroine còn lại T chia ra thành 03 gói nhỏ, trong đó 1 gói T sẽ đưa cho C1 còn 2 gói còn lại T cất giấu để sử dụng và để bán. Sau khi sử dụng ma tuý xong cả ba đi về đến khu vực thôn Đ, xã T thì bị bắt giữ.

Ngoài ra Hoàng Văn T khai nhận thêm:

Khoảng 17 giờ, ngày 14/12/2023, Phạm Hoàng N đến nhà T hỏi mua ma túy để sử dụng, T đồng ý và bán cho N 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng.

Chiều tối ngày 14/12/2023, Nguyễn Văn T1 đến nhà T hỏi mua ma túy để sử dụng, T đồng ý và bán cho T1 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng.

Khoảng 09 giờ sáng ngày 17/12/2023, Nguyễn Văn T1 lại đến nhà T hỏi mua ma túy để sử dụng, T đồng ý và bán cho T1 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng.

Khoảng 10 giờ, ngày 17/12/2023, Phạm Hoàng N lại đến nhà T hỏi mua ma túy để sử dụng, T đồng ý và bán cho N 01 gói Heroine với giá 95.000 đồng.

Phạm Hoàng N khai:

- Việc N mua ma tuý của T trong các ngày 14 và 17 tháng 12 năm 2023 đúng như T đã khai.

- Đối với sự việc ngày 18/12/2023, N đến nhà T hỏi mua ma tuý để sử dụng nhưng T nói không có ma tuý muốn có thì phải đi vào B, Cát T4 mới có, N nói nếu đi vào đấy mua thì cho N đi với, T đồng ý. Sau đó T điều khiển xe chở N đi đến nhà T2, khi gặp T2, N không biết T nói gì với T2 nhưng N thấy T2 cùng đi. Trên đường đi đến dốc M, xã C gặp một người đàn ông, người này trao đổi gì với T thì N không biết sau đó N thấy người đàn ông đưa cho T 500.000 đồng nhưng do T đang điều khiển xe nên đã nhờ N cầm hộ tiền. Diễn biến tiếp theo đúng như T đã khai.

Vũ Thanh T2 khai nhận: Sự việc đúng như T và N khai. Do T2 cũng là người nghiện ma tuý nên khi được T rủ đi sử dụng ma tuý T2 đã đồng ý, T2 không biết việc C1 nhờ T mua ma tuý, khi dừng lại đổ xăng, T2 đã tự nguyện đổ xăng và mua xi lanh để sử dụng ma tuý.

Nguyễn Văn T1 khai: Việc T1 mua ma tuý của T vào các ngày 14 và 17 tháng 12 năm 2023 đúng như T đã khai.

Tại Bản kết luận giám định số: 686/KL-KTHS ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:

“1. Chất bột nén màu trắng thu giữ của Hoàng Văn T có tổng khối lượng là 0,37 gam. 0,1 gam trích từ 0,37 gam gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

2. Chất bột nén màu trắng thu giữ của Phạm Hoàng N có khối lượng là 0,11 gam. 0,08 gam trích từ 0,11 gam gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Heroine (H3) có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục ma túy và tiền chất”.

Cáo trạng số: 20/CT-VKS-VC ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Phạm Hoàng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như trong bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):

- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Trọng phạm t “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 08 năm 09 tháng đến 09 năm 06 tháng tù.

- Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N từ 01 năm đến 01 năm tù 03 tháng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).

  • Truy thu số tiền 395.000 đồng tiền bán ma túy của Hoàng Văn T cho Phạm Hoàng N và Nguyễn Văn T1.
  • Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động hiệu MOBELL, kèm theo 02 thẻ Sim.
  • Trả lại cho chị Hà Như H1 01 xe mô tô.
  • Tịch thu tiêu huỷ 0,3 gam heroine còn lại sau giám định và 03 xi lanh, 02 vỏ phong bì + mảnh nilon gói, mảnh giấy gói.
  • Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.

Các bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng xin HĐXX khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc điều tra, truy tố các bị cáo đều hợp pháp.

[2] Về việc xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng được triệu tập đến phiên tòa: Tại phiên tòa, người làm chứng Nguyễn Văn T1 vắng mặt. Xét thấy trong quá trình điều tra người làm chứng đã có lời khai đầy đủ việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án nên HĐXX vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại Điều 293 của BLTTHS.

[3] Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, việc áp dụng biện pháp tư pháp đối với các bị cáo.

Căn cứ lời khai của các bị cáo, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời khai của người làm chứng Nguyễn Văn T1 của Nguyễn Thanh T5 và các vật chứng đã thu giữ được nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Hoàng Văn T:

  • Trong các ngày 14/12/2023 và 17/12/2023, Hoàng Văn T đã 02 lần bán ma tuý cho Phạm Hoàng N (01 gói Heroine với giá 100.000 đồng; 01 gói Heroine với giá 95.000 đồng).
  • Trong các ngày 14/12/2023 và 17/12/2023, Hoàng Văn T đã 02 lần bán ma tuý cho Nguyễn Văn T1 (01 gói Heroine với giá 100.000 đồng; 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng).
  • Ngày 18/12/2023, Hoàng Văn T tàng trữ 0,37 gam heroine vừa để sử dụng vừa để bán.

Hoàng Văn T trong 02 ngày 14/12/2023 và 17/12/2023 đã có 4 lần bán Heroine cho Phạm Hoàng N, Nguyễn Văn T1 và trong ngày 18/12/2023 đã tàng trữ trái phép Heroine để nhằm bán cho người khác là đã phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý. Bị cáo T có 4 lần bán ma tuý và 01 lần tàng trữ nhằm để bán trái phép chất ma tuý là đã phạm vào tình tiết tăng nặng định khung “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS.

Về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N:

Ngày 18/12/2023, Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N rủ nhau cùng đi mua ma tuý để sử dụng, Hoàng Văn T là người trực tiếp mua ma tuý, sau khi mua đã đưa số ma tuý cho Phạm Hoàng N cất giữ, Phạm Hoàng N là người cung cấp tiền và trực tiếp cất giữ 0,11 gam Heroine. Hành vi cất giữ 0,11 gam Heroine của Phạm Hoàng N đã phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Hoàng Văn T là người đi mua hộ ma tuý để cho N cất giữ do vậy là đồng phạm đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Phạm Hoàng N với vai trò giúp sức và phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma tuý Phạm Hoàng N tàng trữ.

Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng bởi tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, nhân cách của người sử dụng, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ma túy còn là nguyên nhân và điều kiện cho các tội phạm khác phát sinh, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý của Nhà nước. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người lương thiện đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy trong giai đoạn hiện nay.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với Hoàng Văn T: Bị cáo Hoàng Văn T tự khai báo ra hành vi mua bán trái phép chất ma tuý cho Phạm Hoàng N và Nguyễn Văn T1 khi chưa bị phát hiện. Đây là tình tiết “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo T đối với tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo”, HĐXX nhận thấy như sau: Tại bút lục 90 “Bản tự khai” ngày 28/12/2023 bị cáo T khai: “Tôi và anh N rủ nhau đi mua heroine về sử dụng. Tôi đi đến nhà anh T5 ở thôn C rủ anh T5 cùng đi mua ma túy về sử dụng. Anh T5 bảo chỉ có 100.000 đồng nên dùng 100.000 đồng này để đổ xăng vào xe máy và mua xi lanh để sử dụng ma túy tôi đã đồng ý.” Tuy nhiên sau đó bị cáo thay đổi lời khai với nội dung bị cáo chỉ đến rủ T5 đi sử dụng ma tuý cùng chứ không rủ T5 đi mua ma tuý và việc T5 sử dụng 100.000 đồng để đổ xăng và mua xi lanh là do T5 tự nguyện. Tại phiên toà ngày 17/4/2024, sau khi được chủ toạ nhiều lần hỏi bị cáo với nội dung khi bị cáo đến nhà của T5, bị cáo nói với T5 nội dung gì? Bị cáo khai nói với T5 nội dung bị cáo rủ T5 đi mua ma tuý để sử dụng, tại nhà của T5 thì T5 có nói với bị cáo về việc T5 có 100.000 đồng để T5 đổ xăng và mua xilanh. HĐXX đã trả hồ sơ để yêu cầu khởi tố, điều tra bổ sung đối với Vũ Thanh T2 với vai trò đồng phạm. Sau khi Cơ quan điều tra lấy lời khai đối với bị cáo, bị cáo tiếp tục thay đổi lời khai với nội dung phủ định lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày 17/4/2024 với nội dung bị cáo đến nhà T2 chỉ rủ T2 đi sử dụng ma tuý, không rủ đi mua ma tuý cùng và khi đến nhà T2, thì T2 không nói T2 có bao nhiêu tiền, T2 không nói T2 có 100.000 đồng để T2 đổ xăng và mua xi lanh, chỉ khi đi đến gần trường học tại xã C, xe hết xăng thì T2 mới bảo để T2 trả tiền xăng, lúc đó bị cáo mới biết T2 có 100.000 đồng. Tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo tiếp tục phủ định lời khai tại phiên toà ngày 17/4/2024. HĐXX thấy rằng bị cáo nhiều lần thay đổi lời khai, khai báo không thống nhất, điều đó chứng tỏ bị cáo T quanh co, không thành khẩn. HĐXX quyết định không chấp nhận việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo” đối với bị cáo Hoàng Văn T như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.

Đối với bị cáo Phạm Hoàng N: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo. Bị cáo Phạm Hoàng N có cha đẻ là Phạm Đình P được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và mẹ đẻ là Hoàng Thị N1 được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo N.

Về nhân thân: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy, riêng bị cáo N đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mặc dù đã hết thời hạn bị coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, nhưng cần phải xác định các bị cáo là người có nhân thân chưa tốt.

Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mới có thể giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật và góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng ngừa các tội phạm về ma túy. Đây là vụ án đồng phạm, bị cáo Trọng giữ vai trò chính, quá trình điều tra và tại phiên toà không thành khẩn khai báo, bị cáo T bị xét xử 02 tội trong một vụ án vì vậy cần phải áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc. Đối với bị cáo N, HĐXX thấy rằng bị cáo N đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo N để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về áp dụng biện pháp tư pháp:

Số tiền 395.000 đồng bị cáo T có được do bán heroine cho Phạm Hoàng N và Nguyễn Văn T1 nhưng bị cáo đã sử dụng hết do vậy cần truy thu sung vào ngân sách nhà nước.

Toàn bộ số heroine còn lại sau giám định và 03 xi lanh, 02 vỏ phong bì + mảnh nilon gói, mảnh giấy gói cần tịch thu tiêu hủy.

[3] Về xử lý tài sản tạm giữ:

Trong quá trình bắt giữ bị cáo, cơ quan công an đã thu những tài sản sau:

- 01 điện thoại di động hiệu MOBELL, kèm theo 02 thẻ Sim xét thấy những tài sản, đồ vật này không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T.

- Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 21V8-9485 là tài sản của chị Hà Như H1 là vợ đã ly hôn của bị cáo T. Chiếc xe này là tài sản có trước khi chị H1 kết hôn với bị cáo, sau khi ly hôn chị H1 cho bị cáo mượn sử dụng đi đón con, chị H1 không biết bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho chị Hà Như H1.

[4] Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với hành vi cung cấp ma tuý cho Vũ Thanh T2 sử dụng của Phạm Hoàng N và Hoàng Văn T: Do Phạm Hoàng N, Hoàng Văn T và Vũ Thanh T2 đều là những người nghiện ma tuý cùng rủ nhau đi sử dụng ma tuý nên hành vi của Phạm Hoàng N, Hoàng Văn T không phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Trong vụ án này bị cáo T khai nguồn gốc Heroine bị cáo có để sử dụng và để bán, bị cáo mua của Trần Văn T3, sinh năm 1985, trú tại thôn V, xã C, huyện V, Cơ quan điều tra đã triệu tập Trần Văn T3 để làm rõ nhưng Trần Văn T3 đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn T1 là người mua ma tuý của bị cáo T để sử dụng và Vũ Thanh T2 là người được Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N cho ma tuý để sử dụng, các đối tượng đã sử dụng hết chỗ ma tuý nên không có đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự. Nguyễn Văn T1 và Vũ Thanh T2 đã bị Cơ quan Công an huyện V xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên C1 đã đưa số tiền 500.000 đồng nhờ T mua hộ H2, nhưng T không biết rõ họ, tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại xã C, huyện V, không có người nào tên C1 có đặc điểm như T mô tả, nên không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Trọng phạm t “Mua bán trái phép chất ma tuý”; bị cáo Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; điểm r khoản 1 Điều 51 của BLHS:

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 17,38, 58 của BLHS:

- Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ Điều 55 của BLHS: Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Văn T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/12/2023.

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 17,38,58; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS:

- Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 18/12/2023.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng, tài sản:

  • Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS: Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn T 01 điện thoại di động MOBELL + 02 SIM. Trả lại cho chị Hà Như H1 01 xe mô tô biển kiểm soát 21V8-9485.
  • Căn cứ vào điểm b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 của BLTTHS: Truy thu số tiền 395.000 đồng của Hoàng Văn T để sung vào ngân sách nhà nước. Tịch thu tiêu huỷ 0,3 gam heroine còn lại sau giám định và 03 xi lanh, 02 vỏ phong bì + mảnh nilon gói, mảnh giấy gói.

Các vật chứng, tài sản có các đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/3/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện V với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo Hoàng Văn T và Phạm Hoàng N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Hà Như H1 có quyền kháng cáo phần bản án sơ thẩm liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Yên Bái;
  • -VKSND huyện Văn Chấn ;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • -CA huyện Văn Chấn;(2b)
  • -THADS huyện Văn Chấn;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục hải quan Yên Bái;
  • - Chi cục thuế Nghĩa Văn
  • -THA HS (2b) ;
  • -Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Nguyễn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T- Phạm Hoàng N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger