|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.
Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Nhạc, ông Phan Đình Khiêm, bà Thanh Thị Minh Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2025/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Hà Thanh V (Tên gọi khác: Vũ H), sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Thanh T và bà Trần Thị Ú; có vợ (đã ly hôn) và 02 người con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 16/10/2018, bị cáo Hà Thanh V bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 13/02/2019, bị cáo V đã nộp án phí hình sự sơ thẩm. Ngày 25/01/2022, bị cáo V chấp hành xong án phạt tù và đã được xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 08/9/2024 sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Hà Thanh T, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- Bà Trần Thị Ú, sinh năm 1977 (vắng mặt).
- Ông Trần Thanh H1, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 20/8/2024, Hà Thanh V đi chơi tại khu vực vườn hoa gần cầu L, thành phố P, tỉnh Bình Thuận thì gặp một người thanh niên có tên thường gọi là B (không rõ nhân thân, lai lịch). V biết B bán ma túy hàng khay nên hỏi mua thì B đồng ý. B nói V đứng đợi khoảng 15 phút, sau đó B đưa cho V 01 bịch nylon bên trong có chứa ma túy hàng khay, V đưa cho B số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, V về nhà tại thôn T, xã T, thành phố P, vào phòng ngủ của mình và lấy một ít ma túy hàng khay vừa mua được bỏ ra đĩa sứ rồi sử dụng. Phần ma túy còn lại trong bịch nylon thì V cất giấu vào giỏ xách màu đen có hoa văn caro để trong phòng ngủ của V.
Vào ngày 31/8/2024, khi Hà Thanh V đang ở nhà thì G (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho V nói “có đồ, khi nào bạn lấy thì alo cho mình”. Ngày 01/9/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên V sử dụng số điện thoại 0325.985.xxx gọi cho G hỏi mua ma túy đá với số tiền 60.000.000 đồng. G đồng ý và hẹn V vào Thành phố Hồ Chí Minh để giao dịch. Sau đó, V thuê xe taxi (không rõ biển số xe) đi từ thành phố P vào Thành phố Hồ Chí Minh gặp G để mua ma túy như đã thỏa thuận. Khi vào đến Thành phố Hồ Chí Minh, V gọi điện thoại cho G thì G yêu cầu V đưa điện thoại cho tài xế taxi để G chỉ dẫn đường đi. Sau khi đi theo chỉ dẫn đến khu vực gần bến xe (V không nhớ rõ địa chỉ cụ thể), V thấy G đang đứng ở lề đường cùng với chiếc xe mô tô SH màu trắng (không rõ biển số). V nói tài xế taxi đi sát vào lề và vẫy tay nói G vào trong xe. V đưa 60.000.000 đồng tiền mặt cho G. G đi đến xe mô tô SH lấy 01 túi xách hai quai bằng giấy, bên trong có 01 gói nylon lớn có nhíp nhựa kéo một đầu, bên trong gói nylon có chứa ma túy đá rồi đưa cho V. Nhận được ma túy, V đi taxi về lại nhà ở thôn T, xã T, thành phố P. V vào phòng ngủ lấy một ít ma túy đá vừa mua được bỏ vào dụng cụ sử dụng, số ma túy còn lại được V phân chia thành nhiều gói khác nhau, cất giấu trong phòng để sử dụng dần.
Khoảng hơn 16 giờ ngày 06/9/2024, Hà Thanh V xảy ra mâu thuẫn, cãi vã với ông Hà Thanh T và bà Trần Thị Ú là cha mẹ ruột nên V đập phá đồ đạc trong nhà và bỏ đi. Khi cơ quan Công an đến giải quyết vụ việc đã phát hiện trong phòng ngủ của V có dụng cụ sử dụng ma túy đá nên tiến hành khám nghiệm hiện trường. Cùng lúc này, V trở về nhà, nên cơ quan Công an yêu cầu V cùng ông T và bà Ú đến phòng ngủ của V để tiến hành khám nghiệm hiện trường. Tại đây, cơ quan Công an phát hiện và thu giữ các chất ma túy và đồ vật liên quan. Hà Thanh V khai nhận toàn bộ số ma túy này là do Vũ tàng T1 nhằm mục đích sử dụng.
Tại bản Kết luận giám định số 1119/KL-KTHS ngày 14/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- Thùng giấy có chữ Rồng Đỏ, được niêm phong, bên trong thùng giấy có 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 18cm, cao 2,8cm, bên trên đĩa sứ chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có khối lượng 0,1262 gam, là Ketamine.
- Túi giấy niêm phong màu vàng, mã số 058788, bên trong túi giấy có 01 túi zip màu trắng, kích thước khoảng (23 X 18)cm, bên trong túi zip chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M2) có khối lượng 160,7832 gam, là Methamphetamine.
-
Túi giấy niêm phong màu vàng, mã số 053797, bên trong túi giấy có:
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (15,5 X 09)cm, bên trong gói nylon chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M3) có khối lượng 11,5513 gam, là Methamphetamine;
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (9,2 X 09)cm, bên trong gói nylon chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M4) có khối lưcmg 6,1589 gam, là Methamphetamine;
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (07 X 7,3)cm, bên trong gói nylon chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M5) có khối lượng 4,5279 gam, là Methamphetamine;
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thưcrc khoảng (10 X 06)cm, bên trong gói nylon chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M6) có khối lượng 0,7561 gam, là Ketamine. .
Tổng cộng khối lượng các chất tinh thể màu trắng do Hà Thanh V tàng trữ trái phép là: 183,0213 gam Methamphetamine và 0,8823 gam Ketamine.
Vật chứng của vụ án:
- + 01 khay nhựa màu xám, kích thước (32 x 16,6 x 15) cm;
- + 01 túi giấy màu trắng có quai, kích thước (20 x 08 x 22)cm, bên ngoài túi có chữ Biotin;
- + 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên thân chai có chữ STING, đường kính thân 5,3cm, cao 21,5cm. Trên nắp chai có đục hai lỗ và gắn hai ống, gồm một ống bằng nhựa màu đen và một ống bằng thủy tinh màu trắng;
- + 01 hộp nhựa trên bề mặt có dán băng keo màu vàng;
- + 01 hộp thùng nhựa có nắp, màu hồng nhạt, kích thước (23 x17 x 23)cm;
- + 01 giỏ xách màu đen có hoa văn caro, kích thước khoảng (25 x 18 x 06)cm, có 03 (ba) ngăn;
- + 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, hiệu Iphone, màu xám đen, điện thoại chứa sim số 0325.985.xxx;
- + 01 điện thoại di động, loại bàn phím nút bấm, hiệu NOKIA, màu đen, điện thoại chứa sim số 0814.789.xxx;
- + 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 18cm, cao 2,8cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/1 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M1 đã được phân tích hết);
- + 01 túi zip màu trắng, kích thước khoảng (23 X 18)cm; 159,4139 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/2 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (15,5 x 09)cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (9,2 × 09)cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (07 x 7,3)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (10 x 06)cm; 11,4236 gam mẫu M3; 6,0213 gam mẫu M4; 4,3959 gam mẫu M5 và 0,6275 gam mẫu M6 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/3 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
Số vật chứng và tài sản nêu trên được Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận để bảo quản, chờ Tòa án xử lý.
*Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSBT-P1 ngày 28/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Hà Thanh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Hà Thanh V về tội danh, điều luật áp dụng như cáo trạng số 06/CT-VKSBT-P1 ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào Điểm h khoản 4 Điều 249, Điều 38, Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Hà Thanh V từ 17 đến 18 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/9/2024.
Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Bị cáo Hà Thanh V không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết sai phạm của bản thân, đền nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm trở về với gia đình chăm sóc cho cha mẹ và con của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.
- [2] Về việc từ chối người bào chữa: Bị cáo Hà Thanh V bị khởi tố, điều tra, truy tố theo khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định mức cao nhất của khung hình phạt là chung thân. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã mời Luật sư bào chữa chỉ định cho bị cáo, nhưng bị cáo từ chối người bào chữa. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền có người bào chữa theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Hà Thanh V trình bày việc từ chối người bào chữa tại Cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện. Nay bị cáo Hà Thanh V không mời người bào chữa và tiếp tục từ chối người bào chữa chỉ định là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Vì vậy, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án mà không có người bào chữa cho bị cáo V theo quy định tại khoản 3 Điều 77 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
[3] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hà Thanh V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo giống như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên ngày 20/8/2024 bị cáo Hà Thanh V đã mua 1.000.000 đồng ma túy (Ketamine) của đối tượng tên B tại thành phố P và ngày 01/9/2024 mua của đối tượng tên G 60.000.000 đồng ma túy (M) tại Thành phố Hồ Chí Minh đem về nhà sử dụng và cất giấu tại phòng ngủ của V ở thôn T, xã T, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để sử dụng dần. Đến ngày 06/9/2024, Cơ quan Công an phát hiện, thu giữ 183,0213 gam Methamphetamine và 0,8823 gam Ketamine trong phòng ngủ của V.
Hành vi của Hà Thanh V đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Với hành vi tàng trữ 183,0213 gam Methamphetamine và 0,8823 gam Ketamine trong phòng ngủ của bị cáo, đủ căn cứ để kết luận bị cáo Hà Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung hình phạt “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này” theo quy định tại điểm h khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo Hà Thanh V với tội danh và điều luật áp dụng là đúng pháp luật.
-
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-
[5] Với hành vi tàng trữ khối lượng ma tuý 183,0213 gam Methamphetamine và 0,8823 gam Ketamine của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có nhân thân xấu, thể hiện: Ngày 16/10/2018, bị cáo Hà Thanh V bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đã trải qua quá trình cải tạo, giáo dục trong môi trường trại giam nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện tu dưỡng, tu chí làm ăn trở thành người công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần phòng ngừa tội phạm chung.
-
[6] Đối với đối tượng tên G (không rõ nhân thân) là người đã bán ma túy cho bị can V với giá 60.000.000 đồng: Bị cáo V không nhớ rõ địa điểm giao dịch ma túy, do G thường xuyên thay đổi số điện thoại nên bị cáo V không lưu số điện thoại của G trong danh bạ. Sau mỗi lần trao đổi mua bán ma túy thì G yêu cầu bị cáo Vũ xóa nhật ký cuộc gọi, G sẽ chủ động liên hệ với V khi cần. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với đối tượng tên B (không rõ nhân thân) là người bán ma túy hàng khay (Ketamine) cho bị cáo V với giá 1.000.000 đồng vào ngày 20/8/2024 tại khu vực vườn hoa gần cầu L: cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận, kết quả: không xác định được đối tượng tên Bi như thông tin mà bị cáo V đã cung cấp. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với ông Hà Thanh T, bà Trần Thị Ú (cha mẹ ruột của bị cáo V) đều biết V có sử dụng ma túy tại nhà nhưng chưa lần nào trực tiếp trông thấy V đang sử dụng ma túy mà thông qua việc phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy trong phòng ngủ của bị cáo V và các biểu hiện bên ngoài. Quá trình bị cáo V mua ma túy về cất giấu trong phòng ngủ, ông T và bà Ú đều không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
-
[7] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng không có giá trị sử dụng:
- + 01 khay nhựa màu xám, kích thước (32 x 16,6 x 15)cm;
- + 01 túi giấy màu trắng có quai, kích thước (20 x 08 x 22)cm, bên ngoài túi có chữ Biotin;
- + 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên thân chai có chữ STING, đường kính thân 5,3cm, cao 21,5cm. Trên nắp chai có đục hai lỗ và gắn hai ống, gồm một ống bằng nhựa màu đen và một ống bằng thủy tinh màu trắng;
- + 01 hộp nhựa trên bề mặt có dán băng keo màu vàng;
- + 01 hộp thùng nhựa có nắp, màu hồng nhạt, kích thước (23 x17 x 23)cm;
- + 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 18cm, cao 2,8cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/1 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B (trong quá trình giám định mẫu M1 đã được phân tích hết);
- + 01 túi zip màu trắng, kích thước khoảng (23 x 18)cm; 159,4139 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/2 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (15,5 x 09)cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (9,2 x 09)cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (07 x 7,3)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (10 x 06)cm; 11,4236 gam mẫu M3; 6,0213 gam mẫu M4; 4,3959 gam mẫu M5 và 0,6275 gam mẫu M6 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/3 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
- + 01 giỏ xách màu đen có hoa văn caro, kích thước khoảng (25 x 18 x 06) cm, có 03 (ba) ngăn;
Đối với 01 điện thoại di động, loại cảm ứng, hiệu Iphone, màu xám đen, điện thoại chứa sim số 0325.985.xxx do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Tịch thu sung vào Ngân quỹ Nhà nước.
Đối với 01 điện thoại di động, loại bàn phím nút bấm, hiệu NOKIA, màu đen, điện thoại chứa sim số 0814.789.xxx là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo, tuy nhiên, tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án;
- [8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [9] Về án phí: Bị cáo Hà Thanh V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm h khoản 4 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Thanh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Xử phạt bị cáo Hà Thanh V 18 (mười tám) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 08/9/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 khay nhựa màu xám, kích thước (32 x 16,6 x 15) cm;
- + 01 túi giấy màu trắng có quai, kích thước (20 x 08 x 22)cm, bên ngoài túi có chữ Biotin;
- + 01 chai nhựa màu trắng có nắp màu đỏ, trên thân chai có chữ STING, đường kính thân 5,3cm, cao 21,5cm. Trên nắp chai có đục hai lỗ và gắn hai ống, gồm một ống bằng nhựa màu đen và một ống bằng thủy tinh màu trắng;
- + 01 hộp nhựa trên bề mặt có dán băng keo màu vàng;
- + 01 hộp thùng nhựa có nắp, màu hồng nhạt, kích thước (23 x 17 x 23) cm;
- + 01 đĩa sứ màu trắng, đường kính 18cm, cao 2,8cm: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/1 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
- + 01 túi zip màu trắng, kích thước khoảng (23 x 18) cm; 159,4139 gam mẫu M2 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/2 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B;
- + 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (15,5 x 09) cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (9,2 x 09) cm; 01 gói nylon không màu, hàn kín, kích thước khoảng (07 x 7,3)cm, đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, hàn kín, một đầu có nhíp kéo viền màu đỏ, kích thước khoảng (10 x 06) cm; 11,4236 gam mẫu M3; 6,0213 gam mẫu M4; 4,3959 gam mẫu M5 và 0,6275 gam mẫu M6 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy NIÊM PHONG MẪU SAU GIÁM ĐỊNH số 1119/3 có chữ ký của Nguyễn Hồng T2, Phạm Thanh P, Nguyễn Duy P1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh B.
- + 01 giỏ xách màu đen có hoa văn caro, kích thước khoảng (25 x 18 x 06) cm, có 03 (ba) ngăn;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước:
01 điện thoại di động, loại cảm ứng, hiệu Iphone, màu xám đen, điện thoại chứa sim số 0325.985.xxx;
- Trả lại cho bị cáo Hà Thanh V:
01 điện thoại di động, loại bàn phím nút bấm, hiệu NOKIA, màu đen, điện thoại chứa sim số 0814.789.xxx nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
Tất cả các vật chứng và tài sản nêu trên hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/3/2025.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Hà Thanh V phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (04/4/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thủy Tiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Phong Lan |
Nguyễn Thị Thuỷ Tiên |
|
Nguyễn Hữu Nhạc |
Phan Đình Khiêm |
|
Thanh Thị Minh Hiền |
Bản án số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/QĐXXST-HS
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Thanh Vũ tàng trữ trái phép chất ma túy
