Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

--------

Bản án số: 21/2025/LĐ-PT

Ngày: 20 - 3 - 2025

V/v Tranh chấp đơn phương

chấm dứt hợp đồng lao động

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Phan Thị Út
Các Thẩm phán:Bà Lê Thị Hoàng Hoa
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa:Bà Lâm Hỷ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:Ông Nguyễn Văn Thiêm - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 05 và ngày 20 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 07/2025/TLPT-LĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ".

Do Bản án lao động sơ thẩm số 29/2024/LĐ-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 527/2025/QĐPT-DS ngày 14/02/2025; Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 3090/2025/QĐ-PT ngày 05/3/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Thiều Anh D, sinh năm 1984; Cư trú tại: Căn hộ H chung cư E, số A đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Lê Quang Đ, sinh năm 1998; Cư trú tại: Số F V, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 00006585 ngày 28/6/2024 tại Văn phòng C, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh) (có mặt).

Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam);

Trụ sở tại: Tầng A, tòa nhà I, số A T, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Chou Shao-Ning J, sinh năm 1962; Liên hệ tại: Tầng B, Tòa nhà U, số F T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thảo N, sinh năm 1997; bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1992; Cùng liên hệ tại: Tầng B, Tòa nhà U, số F T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 24/6/2024 và ngày 05/8/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam)) (có mặt).

Kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Bị đơn Công ty TNHH B1 (Việt Nam)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Thiều Anh D có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Quang Đ trình bày:

Ông Thiều Anh D và Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) (Sau đây gọi tắt là “Công ty”) ký Hợp đồng lao động số BG516666 ngày 30/01/2022, thời hạn hợp đồng 12 tháng, từ ngày 30/01/2022 đến ngày 29/01/2023. Lương theo hợp đồng 15.000.000 đồng/tháng, phụ cấp chức vụ 10.000.000 đồng/tháng, thực nhận là 25.000.000 đồng/tháng. Vị trí công việc: R - VNC (Giám đốc nhượng quyền khu vực), nơi làm việc: Tầng 20 Tòa nhà UOA, số F đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 21/11/2022, ông Thiều Anh D nhận được email của ông Chen D1 điều chuyển ông D đến khu vực T để làm việc. Thời gian bắt đầu là ngày 23/11/2022 cho đến khi hoàn thành xong nhiệm vụ tìm nhà nhượng quyền thì có thể trở lại văn phòng Thành phố H làm việc. Công ty không thông báo về chế độ ăn uống, nghỉ ngơi trong thời gian ông D chuyển đến làm việc khu vực T. Ngày 22/11/2022, ông D gửi email hỏi Công ty về quy định hạn mức và định mức các khoản chi phí hiện tại áp dụng cho ông D khi đến làm việc khu vực T thì được trả lời là phải được duyệt GOA sau đó mới được thanh toán lại chi phí. Ngày 23/11/2022, ông D nhận email cảnh báo từ ông Chen D1 yêu cầu ông D phải đến tỉnh Bình Phước để làm việc, ông Thiều Anh D có email phản hồi không đồng ý với thư cảnh báo này vì Công ty tự ý điều động người lao động trong khi chưa đạt được thỏa thuận. Từ ngày 23/11/2022 đến ngày 01/12/2022, ông D vẫn đến làm việc ở Văn phòng đại diện của Công ty tại Tầng B, Tòa nhà U, số F đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh như bình thường, có chấm công đầy đủ. Ngày 01/12/2022, ông D nhận được Quyết định số 547/2022/QĐ/BESTX về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Từ ngày 02/12/2022 cho đến nhiều ngày liên tục sau đó, ông D có đến Công ty nhưng bị cắt khóa vân tay chấm công nên không vào công ty được. Công ty đã ép người lao động phải thay đổi vị trí công việc bất lợi và trái thỏa thuận ban đầu nhằm tạo lý do để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Nên ông D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc Công ty phải bồi thường hai tháng lương do chấm dứt hợp đồng trái luật là 50.000.000 đồng. Mức lương được tính là lương mỗi tháng ghi trên hợp đồng là 15.000.000 đồng, phụ cấp chức vụ 10.000.000 đồng.
  2. Công ty nhận ông D trở lại làm việc, nếu Công ty không nhận ông D làm việc lại thì phải trả 02 tháng lương và trợ cấp mất việc 02 tháng: 25.000.000 đồng x 04 tháng = 100.000.000 đồng.
  3. Buộc Công ty phải trả tiền lương cho những ngày không làm việc, tính đến thời điểm khởi kiện: 25.000.000 đồng x 02 tháng = 50.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Ông Thiều Anh D có thời gian thử việc 02 tháng, sau đó Công ty, ký hợp đồng lao động thời hạn là 12 tháng, lúc thử việc và sau khi ký hợp đồng lao động chính thức ông D đều làm việc tại Văn phòng đại diện của Công ty tại Tầng B, Tháp A, Tòa nhà V, số B đường C, Phường A, Quận A, đến ngày 10/6/2022, Công ty chuyển trụ sở văn phòng đại diện đến địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà U, số F đường T, phường T, Quận G. Ngày 29/11/2022, ông D bị Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Ngoài hợp đồng lao động ra, giữa Công ty và ông D không ký thêm phụ lục hợp đồng, Công ty không có bảng mô tả công việc giao cho ông D như ghi tại Mục 5 Điều 1 Hợp đồng lao động. Ông D không nhận được quyết định điều chuyển công tác. Trước khi Công ty gửi email điều chuyển công tác ông D, khoảng tháng 9/2022 Công ty có đề nghị miệng với ông D nghỉ việc trước thời hạn nhưng ông D không đồng ý. Trong thời gian làm việc ông D luôn làm tốt công việc do cấp trên giao thể hiện ở tiền KPI nhận được hàng tháng do Công ty trả cho ông D cùng với tiền lương.

Ngày 21/11/2022, ông Chen D1 gửi email tên gọi: “Subject: Điều chuyển khu vực làm việc”, nội dung email yêu cầu ông D trực tiếp đi đến khu vực do ông D phụ trách là Tây Nam B để làm việc như sau:

"Dear Mr. D, M,

1./ Hiện tại do nhu cầu công việc, yêu cầu hai anh có tên như trên tiến hành đi công tác trực tiếp đến khu vực Đ và T (anh Thiều Anh D phụ trách khu vực T và anh Bùi Nguyễn Thế Đ1 phụ trách khu vực Đ).

Thời gian thực hiện: bắt đầu từ ngày 23/11/2022. Thời gian kết thúc: hoàn thành công tác nhượng quyền tại khu vực đã sắp xếp, có sự phê duyệt của Giám đốc quản lý khu vực.

2./ Hoàn thành kế hoạch nhượng quyền mà khu vực mình đang phụ trách trong ngày hôm nay 21/11/2022, nội dung cụ thể như sau:

  • Tính toán chi phí Marketing.
  • Thời gian hoàn thành tỉ lệ vùng phủ dự kiến đã đặt ra
  • Kế hoạch nhượng quyền cụ thể cho tháng 11 và tháng 12/2022.”

Email được gửi lúc 5:29 chiều ngày 21/11/2022, ông D đã kết thúc công việc ở công ty về đến nhà. Tuy vậy, ông D vẫn làm và gửi cho Công ty K nhượng quyền khu vực T theo yêu cầu bằng phần mềm excel trên máy laptop do công ty cấp và gửi lên mail của Công ty là dung-ta@best-inc.com. Khi bị chấm dứt hợp đồng lao động Công ty đã thu hồi laptop, khoá toàn bộ mail làm việc của ông D, nên tất cả nội dung ông D làm việc, trao đổi công việc trên email, ông D không thể có được. Email ngày 21/11/2022 tên gọi: “Subject: Điều chuyển khu vực làm việc”, nên không phải là đi công tác, ông D phải đi trực tiếp đến khu vực T tìm nhà nhượng quyền bắt đầu từ ngày 23/11/2022 mà chưa có thời gian kết thúc, vì tìm công việc nhà nhượng quyền phụ thuộc vào tiến độ công việc, dự kiến có thể kéo dài nhiều tháng, ít nhất là 04 tháng, nhưng Công ty không thông báo cho ông D chế độ ăn uống, chỗ ở khi làm việc tại khu vực này.

Ngày 22/11/2022, ông D gửi email phản hồi nội dung việc tìm nhà nhượng quyền dự kiến sẽ kéo dài trong nhiều tháng, điều này sẽ dẫn đến việc thay đổi nơi ở của ông D, đề nghị Công ty hỗ trợ chi phí ăn, ở, đi lại và các chi phí phát sinh khác phục vụ cho công việc. Ông D cũng đề đạt nguyện vọng được tiếp tục làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh vì ông D đang có con nhỏ và là người chăm sóc con cùng vợ. Tuy nhiên, ngày 23/11/2022, ông Chen D1 gửi email cảnh báo buộc ông D đến làm việc ngay tại: F L, khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Ông D có email phản hồi không đồng ý với thư cảnh báo này vì Công ty đã điều động người lao động trong khi chưa đạt được thỏa thuận. Từ ngày 23/11/2022 đến ngày 01/12/2022, ông D vẫn đến làm việc ở văn phòng đại diện của Công ty tại Tầng B, tòa nhà U, Quận G như bình thường, có chấm công đầy đủ, có ông Vũ Văn N1 là chủ tịch công đoàn ngồi làm việc cùng bàn với ông D biết và viết giấy làm chứng ngày 16/8/2023 có chứng thực tại phòng công chứng, sau khi biết ông N1 làm chứng thì Công ty đã nhắn tin yêu cầu ông N1 không được làm chứng, nên khi Toà án triệu tập ông N1 không đến toà tiếp tục làm chứng nữa. Ngày 01/12/2022, ông D đến công ty làm việc, thấy quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đặt trên bàn làm việc của ông D. Từ ngày 02/12/2022 cho đến nhiều ngày liên tục sau đó, ông D có đến Công ty nhưng bị cắt khóa vân tay chấm công nên không vào công ty được. Công ty gửi email điều chuyển ông D đến làm việc ở khu vực T, nhưng sau đó Công ty lại yêu cầu ông D đến làm việc tại tỉnh Bình Phước và trong quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nêu lý do ông D không có mặt tại nơi làm việc là khu vực Đ, địa chỉ: F L, khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước là mâu thuẫn và bất hợp lý, điều này cũng vi phạm Khoản 6.1 và Mục 6.2.1 của Quy trình điều động nhân sự nội bộ khối vận hành do chính Công ty đưa ra đó là: “Đối với việc điều động sẽ do nhu cầu của công ty, chủ quản bộ phận hiện tại, chủ quản bộ phận điều động đến, HR khu vực và nhân viên ấy sẽ tiến hành trao đổi, sau khi đạt được sự đồng ý của các bên, sẽ do bộ phận điều động đến gửi mail chạy lưu trình duyệt”. Công ty đã không đưa ra thoả thuận nào, ép ông D phải thay đổi vị trí công việc bất lợi cho ông D, Công ty tìm lý do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông D trái quy định của pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử xác định lương hàng tháng của ông D là 25.000.000 đồng, trên phiếu lương hàng tháng Công ty trả lương cho ông D ghi rõ lương cơ bản là 15.000.000 đồng, phụ cấp 10.000.000 đồng, nên thực nhận hàng tháng là 25.000.000 đồng, như Phiếu lương tháng 11/2022, tại trang 20 của Vi bằng số 58/2024/VB-TPL lập ngày 18/7/2024. Ông D đã cung cấp Sổ phụ kiêm phiếu báo nợ/có từ ngày 15/12/2021 đến ngày 20/12/2022 có sao kê Công ty trả lương hàng tháng cho ông D là 25.000.000 đồng. Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với ông D trái pháp luật. Nên yêu cầu Toà tuyên xử buộc Công ty phải bồi thường hai tháng lương do chấm dứt hợp đồng lao động trái luật: 25.000.000 đồng x 02 tháng = 50.000.000 đồng. Yêu cầu Công ty nhận ông D vào làm việc trở lại, nếu Công ty không nhận ông D vào làm việc thì phải trả 02 tháng lương và trợ cấp mất việc 02 tháng lương. Tổng số tiền là: 25.000.000 đồng x 04 tháng = 100.000.000 đồng. Công ty phải trả tiền lương cho những ngày không làm việc tính đến thời điểm kết thúc hợp đồng lao đồng là: 25.000.000 đồng x 02 tháng = 50.000.000 đồng. Tổng cộng là 200.000.000 đồng.

Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Thùy V trình bày:

Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh không có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án, do bị đơn có trụ sở chính tại quận N, Thành phố Hà Nội. Công ty đã đổi địa chỉ Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể: Từ 01/01/2022 đến hết 30/6/2022, văn phòng đại diện của Công ty đặt tại Toà nhà V1, số B đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngày 01/7/2022, văn phòng đại diện của Công ty đặt tại địa chỉ: Tầng B, tòa nhà U, số F đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn không cung cấp chứng cứ chứng minh nguyên đơn đang cư cư trú, làm việc tại Quận G. Thực tế căn hộ HR1 B2805, chung cư E, số C đường N, phường T, Quận G đang do người nước ngoài sử dụng. Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 và điểm đ Khoản 1 Điều 40 quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án theo lãnh thổ và thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, bị đơn đề nghị chuyển hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội để giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.

Căn cứ theo Mục 3 Điều 1 Hợp đồng lao động số BG 516666 ngày 30/01/2022, địa điểm làm việc được quy định là “Theo sự chỉ đạo của Công ty”, không phải tại Thành phố Hồ Chí Minh như nguyên đơn trình bày. Vị trí công việc của ông D là R(VNC), “Regional” được hiểu là làm việc ở toàn bộ khu vực phía Nam, phù hợp với vị trí công việc của ông D là nhân sự quản lý khu vực nhượng quyền, đúng với đặc thù ngành nghề kinh doanh của Công ty là nhượng quyền chuyển phát nhanh hàng hoá. Trong thời gian ông D làm việc tại Công ty, cấp quản lý trực tiếp của ông D là Chen D1 – Caiden thường xuyên nhắc nhở ông D về việc cần cải thiện nâng cao năng lực tìm kiếm đối tác nhượng quyền và quản lý các nhà nhượng quyền. Tuy nhiên do thời gian làm việc của ông D tại Công ty còn ngắn nên Công ty chưa ban hành các văn bản nhắc nhở hiệu quả công việc hay khiển trách, mà cấp quản lý trực tiếp chỉ nhắc nhở miệng với ông D nhằm thúc đẩy ông D tích cực và trách nhiệm hơn trong công việc được giao.

Công ty cử ông D đi công tác đến địa điểm doanh tại: F L, khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước là hoàn toàn tuân thủ Bản mô tả công việc đối với chức danh giám đốc nhượng quyền khu vực, theo đó nhân sự đảm nhận chức danh này cần phải chấp thuận đi công tác, kể cả tăng ca theo yêu cầu của Công ty. Công ty cũng đưa ra yêu cầu về thời hạn cụ thể là “Cho đến khi nào ông D hoàn thành được nhiệm vụ tìm nhà nhượng quyền” thì ông D có thể trở lại làm việc tại Văn phòng Thành phố H. Công ty yêu cầu ông D đến Bình Phước làm việc không đồng nghĩa với việc chuyển người lao động làm một công việc khác so với hợp đồng lao động, không trái với quy định Bộ luật lao động hiện hành. Ông D đã không đồng ý đi công tác, không hoàn thành công việc được Công ty G đã vi phạm hợp đồng lao động được hai bên ký kết. Công ty có chính sách hỗ trợ cho người lao động khi đi công tác tại các tỉnh, thành phố khác. Nếu công tác tại Hà Nội hoặc Thành phố Hồ Chí Minh, công ty sẽ đặt vé máy bay và khách sạn cho nhân sự đi công tác. Đối với các tỉnh thành khác, Công ty thanh toán lại chi phí sau khi người đi công tác được phê duyệt lịch công tác và làm thanh toán hoàn chi phí công tác trên hệ thống của Công ty. Chế độ công tác phí được áp dụng đối với người lao động làm việc tại Công ty được ban hành vào ngày 09/02/2022. Mặt khác, tất cả các nhân sự khi làm việc tại B đều được tham dự khoá đào tại về các chế độ công tác, quy trình thanh toán công tác phí do phòng nhân sự thực hiện. Ông Thiều Anh D cũng đã được đào tạo qua và hiểu rõ những nội dung này. Vì vậy, ông D đi công tác sẽ được bồi hoàn công tác phí gồm trợ cấp ăn uống, trợ cấp đi lại và chi phí khách sạn hằng ngày. Việc ông D yêu cầu Công ty phải hỗ trợ 10.000.000 đồng/tháng là không có cơ sở.

Ông Thiều Anh D xuất trình chứng cứ có đi làm 05 ngày liên tục tại Công ty và các chứng cứ khác thì bị đơn yêu cầu Tòa án tiến hành giám định với các chứng cứ nêu trên. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm là Toà án nhân dân Quận 7 không có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án, yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án đến Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Bị đơn có nhận được quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ của Toà án. Vì lý do Công ty dời địa chỉ văn phòng Thành phố H, hồ sơ bị thất lạc trong quá trình chuyển văn phòng, nên bị đơn không thể cung cấp tài liệu, chứng cứ và hệ thống hiện đã xoá vì dữ liệu đã lâu không thể truy xuất được. Bị đơn xác nhận Hợp đồng lao động số BG 516666 ngày 30/01/2022, Quyết định số 547/2022/QĐ/BESTX ngày 29/11/2022 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, các email do ông Chen D1 gửi cho ông D các ngày 21, 22 và 23/11/2022, Quy trình điều động nhân sự khối vận hành do nguyên đơn cung cấp là đúng, giữa Công ty và ông D không có bảng mô tả công việc kèm theo hợp đồng lao động. Đối với quyết định điều chuyển công tác ngày 21/11/2021 chưa xác định được Công ty có ban hành hay không và cần có thời gian để kiểm tra lại thông tin. Ông Thiều Anh D có thời gian thử việc và hai bên ký hợp đồng lao động đúng như nguyên đơn trình bày. Ngày 21/11/2022, Công ty yêu cầu ông D đến Bình Phước làm việc là đi công tác, không đồng nghĩa với việc điều chuyển ông D làm công việc khác so với hợp đồng lao động. Ông D đã không đồng ý đi công tác, không có mặt tại nơi làm việc nêu trên 05 ngày làm việc liên tục từ ngày 23/11/2022 đến ngày 29/11/2022 là vi phạm hợp đồng lao động, do đó Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với ông Thiều Anh D theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 36 của Bộ luật lao động. Bị đơn xác nhận quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động gửi cho ông D bằng cách để trên bàn làm việc của ông D, như nguyên đơn trình bày là đúng. Bị đơn không đồng ý nhận ông D trở lại làm việc, không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại bản án lao động sơ thẩm số 29/2024/LĐ-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thiều Anh D.
  2. Buộc bị đơn là Công ty TNHH B1 (Việt Nam) phải trả cho ông T Anh Dũng số tiền do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật tổng cộng 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 07/10/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-LĐ đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 03/10/2024, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thảo N, bà Nguyễn Thị Thùy V trình bày: Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh không có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án, do bị đơn có trụ sở chính tại quận N, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội. Công ty không đồng ý án sơ thẩm xử đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Nguyên đơn ông Thiều Anh D có người đại diện theo ủy quyền là ông Lê Quang Đ trình bày: xin rút lại yêu cầu trợ cấp mất việc 02 tháng lương là 50.000.000 đồng và yêu cầu 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng lao động.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp lệ.

Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-LĐ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu trợ cấp mất việc 02 tháng lương là 50.000.000 đồng và yêu cầu 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng lao động. Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với các yêu cầu đã rút của nguyên đơn và không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam). Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa Bản án động sơ thẩm số 29/2024/LĐ-ST ngày 23/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

1. Về tố tụng:

  • Ngày 23/9/2024, của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử Bản án lao động số 29/2024/LÐ-ST. Ngày 03/10/2024, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Xét, kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
  • Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh rút kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-LĐ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 2 Điều 289 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử đình chỉ đối với kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-LĐ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bị đơn kháng cáo cho rằng Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh không có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án, do bị đơn có trụ sở chính tại quận N, Thành phố Hà Nội nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

Xét, nguyên đơn chọn khởi kiện vụ án tại Toà án nhân dân Quận 7. Trong đơn khởi kiện ghi địa chỉ cư trú của nguyên đơn là Căn hộ HR1 B2805 chung cư E, số C đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh và nơi làm việc của nguyên đơn là: Tầng B, Toà nhà UOA, số F đường T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 756/2024/QĐ-CCTLCC ngày 12/8/2024 do Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh trả lời xác minh cư trú cho Toà án: Ông Thiều Anh D “hiện đang thực tế cư ngụ tại căn hộ B chung cư E, số A đường N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 19/8/2022”. Đồng thời, nguyên đơn đang làm việc tại Văn phòng đại diện Thành phố H ở Quận G. Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 32, điểm c Khoản 1 Điều 35, điểm đ Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 3 Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019, Do đó. Tòa án Quận G xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là của Tòa án nhân dân Quận 7 là đúng quy định pháp luật.

2. Về nội dung:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) ban hành Quyết định số 547/2022/QĐ/BESTX ngày 29/11/2022 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn với lý do ông D tự ý bỏ việc, không có mặt tại nơi làm việc số 67 L, khu phố T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Bình Phước trong 05 ngày làm việc liên tục theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động.

Xét; Hợp đồng lao động số BG516666 ngày 30/01/2022 nội dung hợp đồng ghi địa điểm làm việc: “Theo sự chỉ đạo của Công ty”,Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 21 Bộ luật lao động năm 2019 quy định công việc và địa điểm làm việc. Tại Điểm b khoản 3 Thông tư số 10/2020 Bộ L “Địa điểm của NLĐ: Địa điểm, phạm vi của người lao động làm công việc theo thỏa thuận, trường hợp NLĐ làm việc có tính chất thường xuyên ở nhiều địa điểm khác nhau thì phải ghi đầy đủ các địa điểm đó” Tuy nhiên theo nội dung hợp đồng ghi địa điểm làm việc: “Theo sự chỉ đạo của Công ty” không ghi cụ thể nhưng xét thấy quá trình làm việc của ông D tại Công ty từ khi bắt đầu cho đến ngày 21/11/2022, đều làm việc ở một nơi duy nhất là Văn phòng đại diện Thành phố H.Đồng thời ;Công ty không chứng minh được từ khi bắt đầu công việc cho đến khi chấm dứt hợp đồng lao động, ông D có làm việc ở địa điểm khác với nơi làm việc là Văn phòng đại diện của công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh. Do vậy, địa điểm làm việc của ông D nêu trong hợp đồng lao động “Theo sự chỉ đạo của Công ty” được xác định là Văn phòng đại diện của công ty tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo email ngày 21/11/2022, tên gọi: “Subject: Điều chuyển khu vực làm việc”, tuy Công ty không cung cấp Quyết định điều chuyển khu vực làm việc ngày 21/11/2022, nhưng do địa điểm làm việc của ông D nêu trong hợp đồng lao động “Theo sự chỉ đạo của Công ty” được xác định là Văn phòng đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh như đã phân tích, nên thực tế Công ty điều chuyển ông D đi làm việc ở khu vực khác đúng như tên gọi email ngày 21/11/2022 là: “Điều chuyển khu vực làm việc”. Công ty thay đổi địa điểm làm việc của người lao động nhưng không thoả thuận với người lao động ảnh hưởng quyền lợi hợp pháp của người lao động, là vi hợp đồng lao động, vi phạm nguyên tắc điều động nhân sự quy định tại “Quy trình điều động nhân sự nội bộ khối vận hành” trái với quy định tại Điều 13, Điều 28 Bộ luật Lao động năm 2019.

Tại Khoản 6.1 và Mục 6.2.1 của Quy trình điều động nhân sự nội bộ khối vận hành do chính Công ty đưa ra đó là: “Đối với việc điều động sẽ do nhu cầu của công ty, chủ quản bộ phận hiện tại, chủ quản bộ phận điều động đến, HR khu vực và nhân viên ấy sẽ tiến hành trao đổi, sau khi đạt được sự đồng ý của các bên, sẽ do bộ phận điều động đến gửi mail chạy lưu trình duyệt”. Ngày 23/11/2022, ông D nhận email cảnh báo từ ông Chen D1 yêu cầu ông D phải đến tỉnh Bình Phước để làm việc, ông Thiều Anh D có email phản hồi không đồng ý với thư cảnh báo này vì Công ty tự ý điều động người lao động trong khi chưa đạt được thỏa thuận. Sau đó Công ty ra quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cho ông D bằng cách đặt trên bàn làm việc của ông D vào ngày 01/12/2022,. Việc công ty ra Quyết định số 547/2022/QĐ/BESTX ngày 29/11/2022 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ông D trước thời hạn với lý do ông D không có mặt tại nơi làm việc( địa điểm Bình Phước) 05 ngày làm việc liên tục từ ngày 23/11/2022 đến ngày 29/11/2022 theo quy định tại điểm e Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019 là trái quy định pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm công ty cung cấp bảng lương 06 tháng liền kề và đã xác nhận lương của ông D kể từ ngày ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông D như sau: Tháng 6/2022 là 32.600.000 đồng; tháng 7/2022 là 28.600.000 đồng; tháng 8/2022 là 32.000.000 đồng; tháng 9/2022 là 25.000.000 đồng; tháng 10/2022 31.000.000 đồng tháng 11/2022 26.730.769 đồng. Như vậy, mức lương làm căn cư tính các chế độ cũng như bồi thương do đơn phương chấm dứt hợp đồng là 29.520.205 đồng/ tháng. Tuy nhiên phía nguyên đơn chỉ yêu cầu tính trên mức lương 25.000.000 đồng / tháng. Do đó, bị đơn có nghĩa vụ trả khoản tiền do đơn phương chấp dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động gồm: Hai tháng lương do chấm dứt hợp đồng trái luật: 25.000.000 đồng x 02 tháng = 50.000.000 đồng; trả lương cho những ngày không được làm việc từ ngày 01/12/2022 đến ngày kết thúc hợp đồng lao động là ngày 29/01/2023: 25.000.000 đồng x 02 tháng = 50.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở chấp nhận.

Do sửa án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử tính lại án phí lao động sơ thẩm

Về án phí lao động phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) không phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Khoản 2 Điều 148; khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 13, Điều 28, Điều 36, Điều 41, Điều 47, Điều 187 Bộ luật Lao động năm 2019;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam).
  2. Sửa Bản án lao động sơ thẩm số 29/2024/LĐ-ST ngày 23 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Đình chỉ đối với Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐ-VKS-LĐ của Viện trưởng kiểm sát nhân dân Q, Thành phố Hồ Chí Minh và yêu cầu trợ cấp mất việc 02 tháng lương là 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng và yêu cầu 02 tháng lương để chấm dứt hợp đồng lao động.
  4. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thiều Anh D:
    • - Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) bồi thường cho ông D các khoản sau:
      • - Hai tháng lương do chấm dứt hợp đồng trái luật: 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng x 02 tháng = 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng;
      • - Tiền lương cho những ngày không được làm việc từ ngày 01 tháng 12 năm 2022 đến ngày kết thúc hợp đồng lao động là ngày 29/01/2023: 25.000.000 đồng x 02 tháng = 50.000.000 (Năm mươi triệu) đồng
  5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, đối với khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi.
  6. Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) phải chịu là 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
  7. Án phí lao động phúc thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) không phải chịu.

H lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn B1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0036635 ngày 05 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh .

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. HCM;
  • - Toà án nhân dân Quận 7;
  • - Cục Thi hành án dân sự TP. HCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, TP. HCM;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: Vp, Hs (T13).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/LĐ-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Số bản án: 21/2025/LĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger