|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/KDTM - ST
Ngày: 23 - 6 - 2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Diễm Trang.
Các Hội thẩm nhân dân
- Bà Trần Thị Dung.
- Bà Đỗ Thị Lệ Hằng.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên toà: Ông Tô Văn Tông – Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST-KDTM ngày 07 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 495/2025/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 200/2024/QÐST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH T3.
Địa chỉ: Số C N, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu L – Chức danh: Giám đốc.
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Quốc T – có mặt.
Địa chỉ: Số C N, phường P, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Công ty TNHH MTV X.
Địa chỉ: số H đường số C KDC C - H (Khu B), phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh L1 – Chức danh: Giám đốc – vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Tô Ngọc V – vắng mặt.
- Bà Giang Hồng T1 – vắng mặt.
Địa chỉ: A - 18 đường P, KDC C, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn Công ty TNHH T3 trình bày:
Ngày 17/12/2018 giữa Ngân hàng TMCP S (S1) và Công ty X có ký kết Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng 658/2018/HDHM- PN/SHB.131300 với các nội dung chính như sau: Giá trị hạn mức: 2.700.000.000 đồng; Lãi suất trong hạn: được quy định trong từng khế ước nhận nợ (lãi suất có điều chỉnh theo quy định của S1); Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng. Thời hạn mỗi khế ước nhận nợ: không quá 06 tháng. Mục đích vay vốn: bổ sung vốn kinh doanh vận tải, vật liệu xây dựng công trình. Ngày 27/5/2019 các bên ký tiếp Phụ lục hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số PL01-658/2018/HDHM-PN/SHB.131300 để thay đổi giá trị hạn mức tín dụng thành 6.500.000.000 đồng (Sáu tỷ năm trăm triệu đồng) và hồ sung tài sản thế chấp là xe ô tô theo HĐTC số 659/2018/HĐTC-PN/SHB. 131300 ngày 17/12/2018. Tài sản thế chấp cụ thể là:
Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.98, số máy J574116D4CB, số khung 37RPJB000784, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
Xe ô tô Biển số: 65B-014.98 có giấy chứng nhận đăng ký số 031221 do Phòng C đường bộ - Công an T4 cấp ngày 10/12/2018. Ngày 17/12/2018, các bên ký tiếp Phụ lục hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số PL02-658/2018/HDHM-PN/SHB. 131300 để thay đổi giá trị hạn mức tín dụng thành 10.500.000.000 đồng (Mười tỷ năm trăm triệu đồng). Biện pháp bảo đảm tiền vay: để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng cấp hạn mức tín dụng và phụ lục sửa đổi, bổ sung nêu trên, ông Tô Ngọc V, bà Giang Hồng T1 đã đồng ý thế chấp cho Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 đã được công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Kiên Giang. Đồng thời, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Kiên Giang các tài sản sau: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có giấy chứng nhận số: BM 562317 (số vào số cấp giấy chứng nhận CT04663) do UBND tỉnh K cấp ngày 17/6/2013. Địa chỉ tài sản: Lô A Quốc lộ F, dự án khu dân cư bến xe tỉnh, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 đã được công chứng tại Văn phòng C1, tỉnh Kiên Giang. Đồng thời, Hợp đồng thế chấp này đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ, tỉnh Kiên Giang theo quy định. 2. Tiếp đến ngày 17/12/2018 giữa Ngân hàng TMCP S (S1) và Công ty X có ký kết Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 617/2018/HĐTDTDH-PN/SHB.131300 với các nội dung chính như sau: Số tiền vay: 1.500.000.000 đồng; Lãi suất trong hạn: 11.2%/năm (lãi suất có điều chỉnh theo quy định của S1); Lãi suất quá hạn: bằng 150% lãi suất trong hạn. Thời hạn vay: 60 tháng. Mục đích vay vốn: mua xe ô tô.
Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng tín dụng nêu trên, Công ty X đã đồng ý thế chấp cho S1 theo các hợp đồng thế chấp số: 617/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 và HĐTC số 618/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 các tài sản là 02 phương tiện như sau:
- Xe Huyndai tải có mui, màu trắng, biển số 65C – 124.95, số máy D4GAJJ236562, số khung T7KAJN000242, số chỗ ngồi 03, số loại New, dung tích 3933. Xe ô tô Biển số: 65C-124.95 có giấy chứng nhận đăng ký số 031016 do Phòng C đường bộ - Công an T4 cấp ngày 28/11/2018.
- Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.56, số máy J621507D4CB, số khung 37RPJB001268, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497. Xe ô tô Biển số: 65B-014.56 có giấy chứng nhận đăng ký số 031011 do Phòng C đường bộ - Công an T4 cấp ngày 28/11/2018.
Ngày 30/9/2021, Ngân hàng TMCP S đã thực hiện bán toàn bộ khoản nợ của Công TNHH MTV Xây dựng Thương mại Dịch vụ vận tải M cho Công ty TNHH T3 theo hợp đồng mua, bán nợ số 3009.02/2021/HĐMBN/SHB-SL. Theo đó, Công ty T3 sẽ kế thừa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của S1 phát sinh từ các hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp đã ký kết với Công ty X và bên bảo đảm nghĩa vụ. Trong quá trình thực hiện hợp đồng thì Công ty X đã vi phạm hợp đồng, cụ thể là không trả nợ gốc và nợ lãi theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết với S1. Sau nhiều lần cán bộ của S1 và Công ty T3 đã đôn đốc, yêu cầu nhưng bên vay vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T3 khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết:
- Buộc Công ty TNHH MTV X phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, lãi theo HĐTD cấp hạn mức số 658/2018/HĐHM-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 và HĐTD trung dài hạn số 617/2018/HĐTDTDH-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/12/2024 (lãi trong hạn, lãi quá hạn, phạt chậm trả lãi và phí) cho Công ty T3 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/12/2024 là: 22.839.615.146 đồng (Bằng chữ: hai mươi hai tỷ tám trăm ba mươi chín triệu sáu trăm mười lăm nghìn một trăm bốn mươi sáu đồng).
- + Trong đó tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 658 là: 19.952.370.467 đồng (nợ gốc là: 10.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 258.329.553 đồng, nợ lãi quá hạn là: 9.118.440.434 đồng và lãi phạt chậm trả lãi: 75.600.480 đồng).
- + Trong đó tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 617 là: 2.887.244.679 đồng (nợ gốc là: 1.450.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 797.336.562 đồng, nợ lãi quá hạn là: 479.309.838 đồng và lãi phạt chậm trả lãi: 160.598.279 đồng).
Ngoài số tiền trên, Công ty TNHH MTV X còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày 12/12/2024 cho đến khi Công ty TNHH MTV X thanh toán toàn bộ nghĩa vụ cho Công ty T3.
Trường hợp Công ty TNHH MTV X không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty T3 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi các tài sản sau để thu hồi nợ:
- + Toàn bộ các tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất của người thứ ba tại địa chỉ: Lô A Quốc lộp F, dự án khu dân sư bến xe tỉnh, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sở hữu của ông Tô Ngọc V và bà Giang Hồng T1 theo GCNQSDĐQSHNO&TSKGLVÐ số BM 562317 (số vào sổ cấp GCN CT04663) do UBND tỉnh K cấp ngày 17/6/2013 theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 số Công chứng 00001950 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại V1;
- + Phương tiện vận tải theo các Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 617/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018, số 618/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 và số 659/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp Hồ Chí Minh 03/12/2018 và 17/12/2018 là 03 xe ô tô có đặc điểm như sau:
- * Xe Huyndai tải có mui, màu trắng, biển số 65C – 124.95, số máy D4GAJJ236562, số khung T7KAJN000242, số chỗ ngồi 03, số loại New, dung tích 3933.
- * Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.98, số máy J574116D4CB, số khung 37RPJB000784, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
- * Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.56, số máy J621507D4CB, số khung 37RPJB001268, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
Bị đơn Công ty TNHH MTV X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tô Ngọc V và bà Giang Hồng T1 vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn tranh luận:
- Yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiệu của nguyên đơn như sau:
- Buộc Công ty TNHH MTV X phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, lãi theo HĐTD cấp hạn mức số 658/2018/HĐHM-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 và HĐTD trung dài hạn số 617/2018/HĐTDTDH-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 cho Công ty T3 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là: 23.988.715.752 đồng, trong đó:
- + Tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 658 là: 20.922.957.123 đồng (nợ gốc là: 10.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 258.329.553 đồng, nợ lãi quá hạn là: 10.081.132.066 đồng và lãi phạt chậm trả lãi: 83.495.504 đồng).
- + Tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 617 là: 3.065.758.629 (nợ gốc là: 1.450.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là: 797.336.562 đồng, nợ lãi quá hạn là: 630.171.416 đồng và lãi phạt chậm trả lãi: 188.250.651 đồng).
- Nguyên đơn xin rút lại yêu cầu tình lãi phạt chậm trả lãi của 02 Hợp đồng tín dụng với tổng số tiền xin rút yêu cầu là 271.746.155 đồng.
- Ngoài số tiền trên, Công ty TNHH MTV X còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ tiếp theo là ngày 24/6/2025 cho đến khi Công ty TNHH MTV X thanh toán toàn bộ nghĩa vụ cho Công ty T3.
- Trường hợp Công ty TNHH MTV X không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Công ty T3 có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án kê biên, phát mãi các tài sản sau để thu hồi nợ:
- + Toàn bộ các tài sản thế chấp tại Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất của người thứ ba tại địa chỉ: Lô A Quốc lộp F, dự án khu dân sư bến xe tỉnh, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sở hữu của ông Tô Ngọc V và bà Giang Hồng T1 theo GCNQSDĐQSHNO&TSKGLVĐ số BM 562317 (số vào sổ cấp GCN CT04663) do UBND tỉnh K cấp ngày 17/6/2013 theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 số Công chứng 00001950 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại V1;
- + Phương tiện vận tải theo các Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 617/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018, số 618/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 và số 659/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp Hồ Chí Minh 03/12/2018 và 17/12/2018 là 03 xe ô tô có đặc điểm như sau:
- * Xe Huyndai tải có mui, màu trắng, biển số 65C – 124.95, số máy D4GAJJ236562, số khung T7KAJN000242, số chỗ ngồi 03, số loại New, dung tích 3933.
- * Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.98, số máy J574116D4CB, số khung 37RPJB000784, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
- * Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.56, số máy J621507D4CB, số khung 37RPJB001268, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
- Buộc Công ty TNHH MTV X phải thanh toán toàn bộ dư nợ gốc, lãi theo HĐTD cấp hạn mức số 658/2018/HĐHM-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 và HĐTD trung dài hạn số 617/2018/HĐTDTDH-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 cho Công ty T3 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là: 23.988.715.752 đồng, trong đó:
Đồng ý xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ phát biểu quan điểm liên quan đến vụ án như sau (kèm theo bài phát biểu tại phiên tòa):
Về tố tụng:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực quy định tại Điều 30 về thẩm quyền giải quyết vụ án, Điều 68, về tư cách tham gia tố tụng Điều 195, 196 về trình tự thụ lý và giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định, xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ; việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thực hiện đúng quy định.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong thời gian chuẩn bị xét xử: Vụ án đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định tại Điều 48, Điều 49 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thư ký tại phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng dân sự thì nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Qua các tài liệu trong hồ sơ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với bị đơn Công ty TNHH MTV X.
Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV X phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH T3 số nợ gốc và lãi của các Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 23.716.969.597, cụ thể:
- + Tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 658 là: 20.839.461.619 đồng (nợ gốc là: 10.500.000.000 đồng, lãi trong hạn: 258.329.553 đồng, lãi quá hạn: 10.081.132.066 đồng).
- + Tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 617 là: 2.877507.978 đồng (nợ gốc là: 1.450.000.000 đồng, lãi trong hạn: 797.336.562 đồng, lãi quá hạn: 630.171.416 đồng).
Bị đơn Công ty TNHH MTV X còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày tiếp theo là ngày 24/6/2025 cho đến khi Công ty TNHH MTV X thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ cho Công ty TNHH T3.
Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với bị đơn Công ty TNHH MTV X về yêu cầu thanh toán tiền lãi phạt chậm trả lãi của 02 hợp đồng tín dụng là 271.746.155 đồng.
Trường hợp bị đơn Công ty TNHH MTV X không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì nguyên đơn Công ty TNHH T3 có quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ, các tài sản thế chấp theo:
- Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 số Công chứng 00001950 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC N, tài sản tọa lại tại địa chỉ: Lô A Quốc lộp F, dự án khu dân sư bến xe tỉnh, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang theo GCNQSDĐQSHNO&TSKGLVĐ số BM 562317 (số vào sổ cấp GCN CT04663) do UBND tỉnh K cấp ngày 17/6/2013, chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Tô Ngọc V ngày 23/5/2019;
- Các phương tiện vận tải theo các Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 617/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018, số 618/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 và số 659/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp Hồ Chí Minh 03/12/2018 và 17/12/2018 là 03 xe ô tô có đặc điểm như sau:
- + Xe Huyndai tải có mui, màu trắng, biển số 65C – 124.95, số máy D4GAJJ236562, số khung T7KAJN000242, số chỗ ngồi 03, số loại New, dung tích 3933.
- + Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.98, số máy J574116D4CB, số khung 37RPJB000784, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
- + Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.56, số máy J621507D4CB, số khung 37RPJB001268, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn Công ty TNHH MTV X và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tô Ngọc V và bà Giang Hồng T1 đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiếp tục xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên là hoàn toàn phù hợp.
[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền thụ lý: Ngân hàng TMCP S và bị đơn có ký hợp đồng tín dụng, phụ lục hợp đồng cấp hạn mức tín dụng, có ký hợp đồng thế chấp với bị đơn cũng như người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và hiện nay phía bị đơn không thực hiện được việc trả nợ gốc, nợ lãi nên Ngân hàng đã thông báo chuyển nợ quá hạn. Ngày 30/9/2021 Công ty TNHH T3 là người đã mua lại khoản nợ của bị đơn với Ngân hàng TMCP S theo Hợp đồng mua bán nợ số 3009.02/2021/HĐMBN/SHB-SL. Do vậy, xác định nguyên đơn là Công ty TNHH T3. Nguyên đơn đã thông báo thu hồi nợ nhưng bị đơn vẫn không thanh toán nên phát sinh tranh chấp. Do vậy, xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại địa bàn quận N nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
3.1 Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc của nguyên đơn:
Nguyên đơn Công ty TNHH T3 khởi kiện và yêu cầu bị đơn Công ty TNHH MTV X thanh toán nợ theo các Hợp đồng tín dụng như sau:
- Hợp đồng tín dụng trung dài hạn số 617/2018/HĐTDTDH-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 (viết tắt là HĐTD số 617).
- Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 658/2018/HĐHM-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 (viết tắt là HĐTD số 658), Phụ lục Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số PL01-658/2018/HĐHM-PN/SHB.131300 ngày 27/5/2019 (Viết tắt là PL01-658), Phụ lục Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số PL02-658/2018/HĐHM-PN/SHB.131300 ngày 13/6/2019 (Viết tắt là PL02-658).
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện Ngân hàng TMCP S và bị đơn Công ty TNHH MTV X đã ký kết các hợp đồng tín dụng vừa nêu trên. Căn cứ vào HĐTD số 617, tại mục 9.1.8 Điều 9 và HĐTD số 658, tại mục 8.1.8 Điều 8 của 02 hợp đồng có quy định về điều khoản “chuyển giao hoặc chuyển nhượng theo quy định pháp luật về hoạt động mua, bán nợ cho cá nhân/doanh nghiệp/tổ chức khác thực hiện toàn bộ hoặc một phần các quyền và nghĩa vụ của bên A theo Hợp đồng này” nên việc Ngân hàng TMCP S ký Hợp đồng mua bán nợ số 3009.02/2021/HĐMBN/SHB-SL ngày 30/9/2021 với Công ty TNHH T3 là phù hợp.
Nguyên đơn Công ty TNHH T3 đã cung cấp được bản sao của các Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục Hợp đồng tín dụng, các Khế ước nhận nợ, Hợp đồng mua bán nợ, các Hợp đồng thế chấp tài sản cũng như bảng chiết tính gốc lãi nên xác định bị đơn còn nợ số tiền nợ gốc, tạm tính đến ngày 23 tháng 6 năm 2025 là 11.950.000.000 đồng (mười một tỉ chín trăm năm mươi triệu đồng), trong đó:
- + Nợ gốc của HĐTD số 617 là 1.450.000.000 đồng (một tỉ bốn trăm năm mươi triệu đồng)
- + Nợ gốc của HĐTD số 658 (03 Khế ước nhận nợ) là 10.500.000.000 đồng (mười tỉ năm trăm triệu đồng).
Do đó với những chứng cứ trên, có đủ cơ sở xác định bị đơn Công ty TNHH MTV X có vay vốn tại Ngân hàng TMCP S và chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, nay Công ty TNHH T3 – là người mua khoản nợ này nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả nợ vốn gốc như nêu trên là có cơ sở chấp nhận.
3.2 Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi của nguyên đơn:
Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Căn cứ vào các Hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng nêu trên mà bên bị đơn đã ký về việc áp dụng lãi suất trong hạn cũng như việc điều chỉnh lãi qua các lần, các bên đều có thỏa thuận trong các hợp đồng và các hợp đồng đã có hiệu lực, được các bên thực hiện một khoảng thời gian. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn nên nguyên đơn chuyển nợ quá hạn và yêu cầu trả nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng mua bán nợ (30/9/2021) đến ngày xét xử với tổng số tiền lãi của 02 HĐTD 617, 658 với tổng số lãi tạm tính đến ngày 23/6/2025 là có căn cứ, trong đó:
- + Nợ lãi của HĐTD số 617 là 1.427.507.978 đồng (lãi trong hạn: 797.336.562 đồng, lãi quá hạn: 630.171.416 đồng)
- + Nợ lãi của HĐTD số 658 là 10.339.461.916 đồng (lãi trong hạn: 258.329.553 đồng, lãi quá hạn: 10.081.132.066 đồng).
Ngoài ra, bị đơn vẫn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh theo số nợ còn lại của các hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng tín dụng tính từ ngày tiếp theo là ngày 24/6/2025 cho đến khi bị đơn trả xong nợ cho nguyên đơn, lãi được tính theo mức lãi của hợp đồng tín đã ký.
Đối với số tiền lãi phạt chậm trả lãi của 02 HĐTD là 271.746.155 đồng, tại phiên tòa đại diện nguyên đơn xin rút lại yêu cầu tính lãi phạt chậm trả lãi của 02 Hợp đồng tín dụng nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu này của nguyên đơn.
3.3 Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn:
Các hợp đồng tín dụng số 617, 658, phụ lục số 01, 02 là các Hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản, cụ thể:
- Hợp đồng tín dụng số 617 có thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 617/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 (viết tắt là HĐTC 617) và Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 618/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 (viết tắt là HĐTC 618). Hội đồng xét xử thấy rằng, HĐTD số 617 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và bị đơn là Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản, việc bị đơn thế chấp tài sản là phương tiện vận tải, cụ thể tài sản thế chấp là: Xe Huyndai tải có mui, màu trắng, biển số 65C – 124.95, số máy D4GAJJ236562, số khung T7KAJN000242, số chỗ ngồi 03, số loại New, dung tích 3933 và Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.56, số máy J621507D4CB, số khung 37RPJB001268, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497 đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp Hồ Chí Minh chứng nhận đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 03/12/2018.
- Hợp đồng tín dụng số 658 có thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 658/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 (viết tắt là HĐTC 658) và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 (viết tắt là HĐTC 400). Hội đồng xét xử thấy rằng, HĐTD số 658 được ký kết giữa Ngân hàng TMCP S và bị đơn là Hợp đồng tín dụng có bảo đảm bằng tài sản của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tô Ngọc V, bà Giang Hồng T1. Việc bị đơn thế chấp tài sản là phương tiện vận tải, cụ thể tài sản thế chấp là Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.98, số máy J574116D4CB, số khung 37RPJB000784, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497 đã được Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp Hồ Chí Minh chứng nhận đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 17/12/2018 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Tô Ngọc V, bà Giang Hồng T1 thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể tài sản thế chấp là: Lô 12-02 Quốc lộp 61, dự án khu dân cư bến xe tỉnh, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang thuộc quyền sở hữu của ông Tô Ngọc V và bà Giang Hồng T1 theo GCNQSDĐQSHNO&TSKGLVĐ số BM 562317 (số vào sổ cấp GCN CT04663) do UBND tỉnh K cấp ngày 17/6/2013, chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Tô Ngọc V ngày 23/5/2019 đã được Công chứng 00001950 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC Ngô Minh T2 và được Đăng ký thế chấp tại Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện C, tỉnh Kiên Giang ngày 27/5/2019.
Các tài sản thế chấp vừa nêu trên đã được đăng ký thế chấp theo đúng quy định tại Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322 và Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015 nên yêu cầu xử lý các tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận.
Xét quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân là thống nhất với quan điểm của Hội đồi xét xử nên ghi nhận.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nghĩ nên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn Công ty TNHH MTV X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, án phí tương ứng số nợ phải trả 23.716.969.597 đồng: 112.000.000đ + 0,1% (phần vượt quá 04 tỉ đồng) = 131.716.969 đồng.
Nguyên đơn Công ty TNHH T3 được nhận lại 65.419.000 đồng (sáu mươi trăm triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005621 ngày 21/01/2015 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
[5] Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Bị đơn phải chịu 12.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 12.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bộ S2 năm 2017); Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 322, Điều 323 Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với bị đơn Công ty TNHH MTV X.
Buộc bị đơn Công ty TNHH MTV X phải trả cho nguyên đơn Công ty TNHH T3 số nợ gốc và lãi của các Hợp đồng tín dụng tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 23.716.969.597, cụ thể:
- + Tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 658 là: 20.839.461.619 đồng (nợ gốc là: 10.500.000.000 đồng, lãi trong hạn: 258.329.553 đồng, lãi quá hạn: 10.081.132.066 đồng).
- + Tổng nợ gốc và lãi của HĐTD số 617 là: 2.877.507.978 đồng (nợ gốc là: 1.450.000.000 đồng, lãi trong hạn: 797.336.562 đồng, lãi quá hạn: 630.171.416 đồng).
Bị đơn Công ty TNHH MTV X còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết từ ngày tiếp theo là ngày 24/6/2025 cho đến khi Công ty TNHH MTV X thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ cho Công ty TNHH T3.
- Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH T3 đối với bị đơn Công ty TNHH MTV X về yêu cầu thanh toán tiền lãi phạt chậm trả lãi của 02 hợp đồng tín dụng là 271.746.155 đồng.
Trường hợp bị đơn Công ty TNHH MTV X không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì nguyên đơn Công ty TNHH T3 có quyền yêu cầu Thi hành án phát mãi các tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ:
- Tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất số 400/2019/HĐTC-BTB/SHB.131300 ngày 27/5/2019 số Công chứng 00001950 quyển số 02 TP/CC-SCC/HĐGD tại VPCC N, tài sản tọa lại tại địa chỉ: Lô A Quốc lộp F, dự án khu dân sư bến xe tỉnh, xã V, huyện C, tỉnh Kiên Giang theo GCNQSDĐQSHNO&TSKGLVĐ số BM 562317 (số vào sổ cấp GCN CT04663) do UBND tỉnh K cấp ngày 17/6/2013, chỉnh lý chuyển nhượng cho ông Tô Ngọc V ngày 23/5/2019;
- Phương tiện vận tải theo các Hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 617/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018, số 618/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 03/12/2018 và số 659/2018/HĐTC-PN/SHB.131300 ngày 17/12/2018 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch, tài sản tại Tp Hồ Chí Minh 03/12/2018 và 17/12/2018 là 03 xe ô tô có đặc điểm như sau:
- + Xe Huyndai tải có mui, màu trắng, biển số 65C – 124.95, số máy D4GAJJ236562, số khung T7KAJN000242, số chỗ ngồi 03, số loại New, dung tích 3933.
- + Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.98, số máy J574116D4CB, số khung 37RPJB000784, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
- + Xe Huyndai ô tô khách, màu trắng đỏ, biển số 65B – 014.56, số máy J621507D4CB, số khung 37RPJB001268, số chỗ ngồi 16, số loại SOLATI, dung tích 2497.
- Về án kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- - Bị đơn Công ty TNHH MTV X phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 131.716.969 đồng (một trăm ba mươi mốt triệu bảy trăm mười sáu nghìn chín trăm sáu mươi chín đồng).
- Nguyên đơn Công ty TNHH T3 được nhận lại 65.419.000 đồng (sáu mươi trăm triệu bốn trăm mười chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005621 ngày 21/01/2015 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ): Bị đơn phải chịu 12.000.000 đồng. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn số tiền 12.000.000 đồng.
- Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết ở địa phương nơi cư trú.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 21/2025/KDTM - ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 21/2025/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Sơn Lâm kiện Công ty Minh Lãm
