|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HSST Ngày: 02/04/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
-
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường
-
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Nhưng; ông Nguyễn Tiến Thị
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư ký Tòa án
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh: Bà Lê Thị Hoài, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 04 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh H, Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số:17/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXHSST- HS, ngày 14 tháng 03 năm 2025 và Thông báo mở lại phiên toà số 01/2025/TB-TA ngày 28/3/2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn H; tên gọi khác: Không; sinh ngày 23 tháng 11 năm 2000; nơi sinh: Tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; dân tộc Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Trần Xuân P (đã chết) và bà: Phạm Thị H1; anh chị em ruột có 07 người, bị cáo là con thứ ba; có vợ: Nguyễn Thùy G và 01 con sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 04/02/2025 đến ngày 06/2/2025 chuyển tạm giam tại trai tạm giam công an H; có mặt tại điểm cầu T tạm giam Công an tỉnh H.
Bị hại: Chị Hoàng Thị Ly N; sinh năm 2005; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Sinh viên; vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hồ Xuân L; sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tất L1; sinh năm 1998; nơi cư trú: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; vắng mặt.
Người tham gia tố tụng khác có mặt tại tại điểm cầu thành phần:
Ông Bùi Thiên T; chức vụ: Tổ trưởng tổ dẫn giải; ông Nguyễn Đình Q, chức vụ: Tổ viên; ông Nguyễn Trọng K, chức vụ: Tổ viên. Đều là cán bộ thuộc trại tạm giam Công an H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng cuối tháng 11/2024 Trần Văn H, trong một lần tham gia vào hội nhóm Telegram trên mạng xã hội thì thấy tài khoản Telegram của một người không rõ họ tên và địa chỉ đăng một đoạn Video Clip có nội dung hình ảnh nhạy cảm của chị Hoàng Thị Ly N, sinh năm 2005, trú tại thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi xem Video Clip H nhận ra chị N là người ở xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, nên H nảy sinh ý định mua lại đoạn Video Clip trên để liên lạc với chị N nhằm đe dọa chiếm đoạt tài sản. Sau đó H đã liên lạc với tài khoản có Video Clip nói trên và thống nhất với người này H mua lại đoạn Video Clip với giá 20.000.000 đồng, thanh toán bằng hình thức chuyển tiền ảo qua tài khoản trực tuyến. Giao dịch mua bán xong H lưu giữ đoạn Video Clip có nội dung nhạy cảm nói trên về trong chiếc máy điện thoại Iphone 7 Plus màu hồng, gắn sim số 0965699733 của H rồi rời khỏi nhóm trò chuyện T1 nói trên. Sau khi có được đoạn Video Clip nhạy cảm của chị N, ngày 24/01/2025 H đến nhà Hồ Xuân L, sinh năm 2002, trú tại thôn M, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh mượn điện thoại của L rồi dùng tài khoản Facebook của L có tên hiển thị “Lam Ho X”, nhắn tin qua ứng dụng Messeger đến tài khoản Facebook của chị N có tên hiển thị “Hoàng Thị Ly N” xin số điện thoại của chị N nhằm mục đích liên lạc để thông báo với chị N việc H đang có Video Clip nhạy cảm của chị N để yêu cầu chị N đưa tiền cho H, H sẽ xoá đoạn Video Clip. Sau khi lấy được số điện thoại, H đã xóa tin nhắn đã liên lạc với chị N và trả máy điện thoại lại cho L và không nói cho L biết việc mượn máy để làm gì. Sau đó H dùng tài khoản Zalo của mình đăng ký số điện thoại 0965.699.xxx có tên hiển thị “H” kết bạn liên lạc với chị N biết là H đang lưu giữ đoạn Video Clip có nội dung hình ảnh nhạy cảm của chị N và yêu cầu chị N phải chuyển cho H số tiên 12.000.000 đồng thì H sẻ xóa Video Clip. Ngày 02/02/2025 H gửi đoạn Video Clip đó và nhắn tin qua zalo cho chị N với nội dung muốn xóa Video Clip thì phải gặp và đưa cho H số tiền 12.000.000 đồng. Đến ngày 03/02/2025, H tiếp tục nhắn tin qua zalo cho chị N, yêu cầu chị N đúng 21 giờ ngày 03/02/2025 phải có đủ số tiền 12.000.000 đồng đưa cho H nếu không sẽ đăng Video Clip lên tài khoản Telegram bán lại cho người khác rồi H hẹn chị N đến tại nhà nghỉ P1 thuộc xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để đưa số tiền 12.000.000 đồng, khi nhận đủ tiền H sẽ đưa điện thoại H cho chị Na xóa Video Clip đó, do thời điểm trên nhà nghỉ P1 hết phòng nên H hẹn chị N ra tại khu vực đường liên xã L, thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh để đưa tiền. Vào khoảng 21 giờ 35 phút khi chị N đến chỗ hẹn đưa cho H số tiền 7.000.000 đồng tiền mặt và chuyển qua số tài khoản 23112008170722 mở tại ngân hàng T2 mang tên Trần Văn H số tiền 5.000.000 đồng. Khi H nhận số tiền 7.000.000 đồng tiền mặt đang cầm trên tay và 5.000.000 đồng qua tài khoản cá nhân của H từ chị N thì bị Tổ tuần tra Công an huyện K phối hợp với Công an xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang đối với Trần Văn H.
Vật chứng vụ án: Tiền Ngân hàng N2 đang lưu hành 7.000.000 đồng gồm 35 tờ tiền có mệnh giá 200.000 đồng, thu của Trần Văn H, nay đã trả lại cho chị Hoàng Thị Ly N. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plut, màu hồng, gắn sim số 0965699733, số IMEI 59474084235419 máy đã qua sử dụng, thu của Trần Văn H đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Văn H đã tác động gia đình trả lại cho chị Hoàng Thị Lê N1 số tiền là 5.000.000 đồng. Nay bị hại không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT- VKSKA ngày 24 tháng 02 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trần Văn H về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Văn H mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
-
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được bồi thường đầy đủ tài sản bị chiếm đoạt nên không có yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét.
-
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plut, màu hồng, số IMEI 59474084235419 máy đã qua sử dụng, thu của Trần Văn H; tịch thu tiêu huỷ sim số 0965699733
-
- Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6, khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử buộc Trần Văn H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận; Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bản thân có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trần Văn H dùng Video Clip có nội dung hình ảnh nhạy cảm của chị Hoàng Thị Ly N để đe dọa đăng tải lên mạng xã hội nhằm buộc chị N phải đưa cho H số tiền 12.000.000 đồng, nếu không đưa tiền H sẽ phát tán lên mạnh xã hội. Chị Lê N1 đã đưa cho Hùng H tổng số tiền 12.000.000 đồng. Hành vi đó có đủ cơ sở để kết luận Trần Văn H đã phạm vào tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.
[3] Trong vụ án này Trần Văn H thực hiện tội phạm 1 mình. Hành vi phạm tội của Trần Văn H không những xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng đến tinh thần, sức khoẻ của bị hại, thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét tính chất mức độ hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử cần xét xử Trần Văn H một mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Trần Văn H là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về dân sự: Bị cáo Trần Văn H đã bồi thường đẩy đủ số tiền 12.000.000 đồng theo yêu cầu của bị hại. Nay bị hại không có yêu cầu gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét.
[9] Đối với Hồ Xuân L là người đã cho Trần Văn H mượn điện thoại và dùng tài khoản Facebook liên lạc với chị Hoàng Thị Ly N để lấy số điện thoại sau đó thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra xác định việc H mượn điện thoại liên hệ với chị N, anh L không biết nên không có căn cứ để xử lý.
[10] Vật chứng vụ án: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plut, màu hồng, số IMEI 59474084235419, gắn sim số 0965699733 là tài sản của Trần Văn H dùng để thực hiện hành vi phạm tội, do đó cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plut, màu hồng, số IMEI 59474084235419 và tịch thu tiêu huỷ sim số 0965699733 là phù hợp.
[11] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[12] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106, Điều 331, Điều 333, khoản 1 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo. Xử:
-
Về tội danh và hình phạt chính:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn H 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/02/2025).
-
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7Plut, màu hồng, số IMEI 59474084235419 và tịch thu tiêu huỷ sim số 0965699733. (Đặc điểm các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 02 năm 2025).
-
Về án phí:
Xử buộc bị cáo Trần Văn H phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 21/2025/HSST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự - cưỡng đoạt tài sản
- Số bản án: 21/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Văn H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Trần Văn Hùng 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 04/02/2025).
