Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 25 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đinh Công Hiến.
  2. Ông Hà Xuân Ninh.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 25/3/2025, trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 21/02/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST- HS ngày 12/3/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn T, tên gọi khác: không, sinh năm 1986 tại: xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm G, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: lớp 5/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị N; vợ là Bùi Thị H; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo T bị bắt, tạm giữ từ ngày 24/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 31/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Trần Xuân T1, sinh năm 1946; nơi cư trú: xóm G, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (vắng mặt).

Người làm chứng: anh Trần Đức T2 và ông Trần Văn H1. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2014. Khoảng 08 giờ ngày 24/12/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-371.77 đi từ nhà ở xóm G, xã L, huyện G đến đường Đ khu vực chân cầu G thuộc địa phận huyện H (nay là thành phố H). T nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đang đứng ven đường nên điều khiển xe mô tô đến gần và nói: “Anh ơi để cho em một quả”; đồng thời lấy ra số tiền 300.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người này cầm tiền rồi đưa lại cho T 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng. T dùng tay sờ nắn và xác định bên trong gói có chứa ma túy, loại Heroine, T cầm gói ma túy ở tay trái và điều khiển xe mô tô đi về khu vực huyện G. Khoảng 09 giờ 00 phút cùng ngày, khi T điều khiển xe mô tô đi đến khu vực cổng chợ M, thuộc trục đường N, phố M, thị trấn M (nay là thị trấn T), huyện G, thì gặp Tổ công tác Công an Thị trấn M (nay là Công an thị trấn T) làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, T tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói ma túy và khai nhận đó là H2, T mua về để sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong gói ma túy có đặc điểm nêu trên. Ngoài ra còn thu giữ của T 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-371.77. Sau đó, lực lượng Công an đưa Trần Văn T cùng vật chứng về trụ sở Công an thị trấn M để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong gói nhỏ thu giữ của Trần Văn T có khối lượng là 0,140 gam lấy mẫu giám định ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 80/KL-KTHS-MT ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1356 gam, là ma túy, loại Heroine (H).

Heroine (H3) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự thứ 9, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 23/CT-VKS-GV ngày 21/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Trần Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 24/12/2024.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 80/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0839 gam, là ma túy, loại Heroine toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 80/KL-KTHS-MT ngày 30/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: khoảng 09 giờ ngày 24/12/2024, tại khu vực cổng chợ M, thuộc trục đường N, phố M, thị trấn M (nay là thị trấn T), huyện G. Tổ công tác Công an Thị trấn M (nay là Công an thị trấn T) kiểm tra hành chính, phát hiện bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1356 gam ma túy loại Heroine với mục đích sử dụng.

[2] Bị cáo Trần Văn T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a) ......

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Như vậy, bị cáo T có hành vi tàng trữ 01 loại chất ma túy loại Heroine để sử dụng cho bản thân như đã nêu ở trên, đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo T có nhân thân tốt từ trước cho đến nay chưa có vi phạm pháp luật.

[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo đã tàng trữ. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp đối hành vi phạm tội, đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ xung: bị cáo T mua ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Đối với 01 phong bì ghi số 80/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0839 gam, là ma túy, loại Heroine và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-371.77, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Trần Xuân T1, sinh năm 1946, trú tại xóm G, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình (ông T1 là bố đẻ của bị cáo T). Ngày 24/12/2024, T mượn xe mô tô đi mua ma túy, ông T1 không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại chiếc xe ô tô trên cho ông T1, là phù hợp qui định của pháp luật.

[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo T khai nhận khoảng 08 giờ ngày 24/12/2024 tại khu vực chân cầu G thuộc địa phận huyện H (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình, bị cáo đã mua ma tuý của người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Do vậy không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: bị cáo Trần Văn T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 24/12/2024.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 80/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất bột màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,0839 gam, là ma túy, loại Heroine toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu vàng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G ngày 24/02/2025.

3. Về án phí: bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP;
  • (Thông báo cho chính quyền
  • địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thi PT tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger