|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày 24 - 02 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Huy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Vinh;
2. Bà Hoàng Thị Tuyết Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng-Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Luân- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị (địa chỉ: D L, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị), Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025, đối với:
Bị cáo: Trần Ngọc H, sinh ngày 07/01/1997, tại: Tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc H1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1969; Vợ: Đào Thị Thu T, sinh năm 2004, có 02 người con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2022; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/10/2024, đến ngày 25/10/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Kim O; cùng địa chỉ: Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
(1) Khoảng 9 giờ 50 phút ngày 20/10/2024, Trần Ngọc H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, màu đen, biển kiểm soát 74C1-254.84 (xe mô tô) đến khu vực đường  gần Nhà Văn hóa Khu phố I, Phường E, thành phố Đ để tìm mua ma túy. Tại đây, H gặp một nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) là đối tượng bán ma túy và mua được 10 viên ma túy tổng hợp (Đựng trong 01 gói nilon), với giá 200.000 đồng. Sau đó, H giấu ma tuý ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng. Khi đến cuối đường  (Giao với đường T) thuộc Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, thì bị Tổ công tác tuần tra của Công an thành phố Đ phát hiện, bắt giữ.
(2) Vật chứng thu giữ:
- 10 viên nén hình trụ tròn, màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ WY; 01 gói nilon màu đỏ đen có kích thước (3x2,5)cm;
- 01 điện tho ại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh (Điện tho ại di động) và 01 xe mô tô .
(3) Xét nghiệm chất ma túy: Trần Ngọc H, dương tính với ma túy Methamphetamin
(4) Giám định: Kết luận giám định số: 1148/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 10 viên nén, gửi đến giám định là: Ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,91gam.
(5) Truy tố: Cáo trạng số: 10/CT-VKS-ĐH ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
(6) Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc H: Từ 16 đến 18 tháng tù.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ ma túy, bao gói hoàn lại sau giám định.
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô
Trả lại cho H: 01 điện thoại di động nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[I] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì.
[II] Nội dung vụ án:
(1) Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mà bị cáo đã thực hiện như nội dung Bản cáo trạng số: 10/CT-VKS-ĐH ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, truy tố bị cáo. Lời khai nhận tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở, kết luận:
Vào lúc 10 giờ 05 phút ngày 20/10/2024, tại đường  giao với đường T, thuộc Khu phố I, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, Trần Ngọc H đang tàng trữ (Cất giấu ở tay trái) 0,91gam ma túy loại Methamphetamine, với mục đích duy nhất là để sử dụng. Vì vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Trần Ngọc H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lí của nhà nước về việc sử dụng chất ma túy với mục đích chữa bệnh mà còn xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng, ngừa tội phạm.
(2) Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình; bị cáo là lao động duy nhất trong gia đình (Có xác nhận của chính quyền địa phương) nên phải áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
(3) Xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và tội phạm mà bị cáo gây ra trong vụ án này. Hội đồng xét xử xét thấy: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là có căn cứ và cần thiết
Thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành án; Để đảm bảo thi hành án cần tạm giam bị cáo 45 ngày.
(4) Hành vi bán ma túy cho Trần Ngọc H của N thanh niên, thấy: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không xác định được nên không xem xét.
(5) Về vật chứng:
(5.1) Ma túy, bao gói hoàn lại sau giám định và điện thoại di động:
- Ma túy, bao gói hoàn lại sau giám định, là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ.
- Điện thoại di động thuộc quyền sở hữu của H, không liên quan đến hành vi phạm tội của H trong vụ án này nên trả lại cho H nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(5.2) Đối với xe mô tô, thấy:
- Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: Xe mô tô biển kiểm soát 74C1-254.84, đăng ký ngày 25/9/2015, Chủ xe: Trần Ngọc H.
- Tại phiên tòa,
Bị cáo Trần Ngọc H khai nhân: Từ giữa năm 2013 đến cuối năm 2015, H làm thợ sữa xe máy cho Công ty TNHH T1, tiền lương hàng tháng H đều đưa về giao cho bà Nguyễn Thị Kim O (Mẹ của H); xe mô tô mua ở Công ty TNHH T1, mẹ H (bà O), là người trực tiếp trả tiền mua xe; H chỉ đứng tên hộ theo yêu cầu của bà O, chỉ thỏa thuận bằng miệng. Sau khi đăng ký xe, các thành viên trong gia đình cùng sử dụng.
Ông Trần Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Kim O (Bố, mẹ của H): Thừa nhận lời khai của H là đúng sự thật; khoản tiền bà O thanh toán tiền mua xe mô tô không liên quan đến tiền lương hàng tháng H nhờ Ông, Bà cất giữ.
Hội đồng xét xử đã quyết định tạm ngừng phiên tòa trong thời hạn 05 ngày để ông H1, bà O cung cấp chứng cứ chứng minh ý kiến của Ông, Bà là có căn cứ nhưng không cung cấp được.
Với những căn cứ nêu trên, có đủ căn cứ để xác định xe mô tô thuộc quyền sở hữu của Trần Ngọc H, H đã sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
Quyền và lợi ích hợp pháp của ông H1, bà O đối với xe mô tô được giải quyết bằng vụ án dân sự độc lập khi Ông, Bà có yêu cầu.
[III] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Trần Ngọc H: 17 (Mười bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ sau đó chuyển tạm giam là ngày 20/10/2024.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì ký kiệu: MTKL 1148, bên ngoài có hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q và chữ ký của những người tham gia niêm phong.
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô, loại xe: Hai bánh từ 50-175cm³, nhãn hiệu Honda, số loại: Airblade, Dung tích xi lanh: 125cm³, năm sản xuất: 2015, số máy: JF46E5533737, số khung: RLHJF4618EY833726, Biển kiểm soát 74 C1-254.84 đã qua sử dụng.
- Trả lại cho Trần Ngọc H: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, số Imei: 356713119655296, đã qua sử dụng nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 01 năm 2025.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí,
Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Huy |
Bản án số 21/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc H phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
