1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HSST
Ngày 13/11/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền, ông Trần Ánh Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Lương Thế A
(tên gọi khác: không), sinh ngày 14/8/2000
HKTT: xóm L, xã L, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Xô V, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1953; vợ, con chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị tạm giữ từ ngày 04/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 13/8/2025 đến nay bị dẫn giải có mặt tại phiên toà.
- Người bị hại: anh Bùi Quang B, sinh ngày 24/3/2009; HKTT: xóm R, xã N, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt tại phiên toà.
Người đại diện của bị hại: bà Trần Thị D, sinh năm 1981 (mẹ bị hại); HKTT: xóm R, xã N, tỉnh Phú Thọ; Anh Bùi Quang H, sinh năm 2003 (anh trai bị hại được bà Bùi Thị D1 uỷ quyền tham gia tố tụng); HKTT: xóm R, xã N, tỉnh Phú Thọ; chỗ ở hiện nay: tiểu khu L, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
+ Chị Lương Thị T, sinh năm 1988; trú tại: xóm C, xã L, tỉnh Phú Thọ. Có mặt tại phiên toà.
+ Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1991; trú tại: số A, tổ A, tổ dân phố T, xã X, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 03/8/2025, Lương Thế A đi về phòng trọ đang thuê của bà Trần Thị L1, tại tiểu khu L, xã L, tỉnh Phú Thọ. Khi đang đi ở khu vực hành lang khu nhà trọ thì Thế A nhìn vào phòng trọ của anh Bùi Quang H thì thấy Bùi Quang B là em trai ruột của H đang ngủ có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi K70, màu trắng bên cạnh. Lúc này, Thế A đi vào gần giường nơi B đang ngủ, lấy trộm chiếc điện thoại di động để vào túi áo chống nắng và đi ra khu vực đường Q gọi một chiếc xe taxi đang ở gần đấy và bảo người điều khiển xe taxi chở đến cửa hàng Đ thuộc tổ dân phố T, xã X, thành phố Hà Nội. Khi đến nơi Thế A bảo người lái xe taxi chờ ở bên ngoài còn Thế A đi vào gặp chủ cửa hàng điện thoại là anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1991. Lúc này, Thế A nói với anh T1 là muốn bán chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi K70, màu trắng với giá 4.000.000đ, anh T1 xem điện thoại và nói điện thoại có mật khẩu không mở được. Thế A nói với anh T1 là chiếc điện thoại là của em trai đã đồng ý cho mang đi bán, em trai đang ốm nằm viện nên không biết mật khẩu. Nghe vậy thì anh T1 nói là để điện thoại ở cửa hàng, anh T1 sẽ đưa trước cho Thế A 500.000đ, khi nào có mật khẩu sẽ đưa nốt số tiền 3.500.000₫ còn lại. Nghe vậy thì Thế A đồng ý bán chiếc điện thoại di động trên và cầm số tiền 500.000₫ chi tiêu cá nhân hết.
Khi vụ án bị phát giác, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ngày 04/8/2025 Lương Thế A đã đến Công an xã L đầu thú. Cùng ngày anh Nguyễn Quốc T1 đã giao nộp chiếc điện thoại đã mua của Thế A cho Cơ quan Cảnh sát điều tra.
Bản kết luận định giá tài sản số 06/KL-HĐĐGTS ngày 14/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ kết luận: giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi K70, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm 03/8/2025 là 4.400.000đ (Bốn triệu, bốn trăm nghìn) đồng.
Cáo trạng số 01/CT-VKSLS, ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lương Thế A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
3
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Về hình phạt chính: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Thế A từ 06 đến 09 tháng tù.
* Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho bị hại Bùi Quang B số tiền 3.500.000đ; bồi thường cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc T1 số tiền 500.000đ. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều không yêu cầu đề nghị gì thêm; chị Lương Thị T không yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền đã bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên không đề nghị xử lý.
* Về vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi K70, màu trắng đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bùi Quang B theo quyết định xử lý vật chứng số B860 ngày 13/8/2025 nên không đề nghị xử lý. 01 hoá đơn bán hàng kiêm bảo hành đề ngày 02/7/2025 của cửa hàng Đ, địa chỉ B, Phú Thọ do Bùi Quang B giao nộp đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.
* Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh P; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 14 giờ, ngày 03/8/2025 tại tiểu khu L, xã L, tỉnh Phú Thọ; Lương Thế A đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi K70 của Bùi Quang B. Sau khi lấy trộm được điện thoại, Thế A đem chiếc điện thoại ra cửa hàng Đ thuộc tổ dân phố T, xã X, thành phố Hà Nội do anh Nguyễn Quốc T1 làm chủ để thoả thuận bán với giá 4.000.000đ tuy nhiên do điện thoại không mở được mật khẩu nên anh T1 đưa trước cho Thế A 500.000đ, khi nào Thế A cung cấp được
4
mật khẩu điện thoại thì sẽ trả nốt số tiền 3.500.000đ còn lại. Số tiền có được từ việc bán điện thoại Thế A đã chi tiêu cá nhân hết.
Kết quả định giá tài sản: giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi K70, màu trắng, đã qua sử dụng tại thời điểm 03/8/2025 là 4.400.000đ (Bốn triệu, bốn trăm nghìn) đồng.
Bị cáo Lương Thế A là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an địa phương.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lương Thế A về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã tác động để gia đình tự nguyện bồi thường cho người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi vụ án bị phát giác bị cáo đã chủ động ra đầu thú tại Công an xã L, tỉnh Phú Thọ; quá trình điều tra và tại phiên toà người đại diện của bị hại đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự và được xuất ngũ theo quy định là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4]. Về mức hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên trong quá trình sinh sống bị cáo không ở nhà tại thôn L, xã L, tỉnh Phú Thọ mà ra ngoài thuê trọ, không có chỗ ở và nơi làm việc ổn định, khi thay đổi nơi cư trú không đăng ký tạm trú. Do vậy cần có mức án phù hợp tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[5]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người lao động tự do, không có nghề nghiệp thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: chị Lương Thị T (chị gái bị cáo) đã thay bị cáo thoả thuận và bồi thường cho người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, xét
5
việc bồi thường thiệt hại là hoàn toàn tự nguyện, không ai có yêu cầu gì thêm; bản thân chị T cũng không yêu cầu bị cáo phải trả số tiền đã bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[7]. Về vật chứng của vụ án:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi K70, màu trắng đã qua sử dụng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Bùi Quang B theo quyết định xử lý vật chứng số B860 ngày 13/8/2025 nên không đề cập xử lý.
- 01 hoá đơn bán hàng kiêm bảo hành đề ngày 02/7/2025 của Cửa hàng Đ có địa chỉ B, Phú Thọ do Bùi Quang B giao nộp cần được lưu theo hồ sơ vụ án.
[7]. Về án phí: bị cáo Lương Thế A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8]. Đối với anh Nguyễn Quốc T1 là người mua chiếc điện thoại di động Xiaomi Redmi K70 của bị cáo. Xét thấy khi mua chiếc điện thoại, anh T1 không biết chiếc điện thoại bị cáo bán cho mình là tài sản phạm tội mà có. Do vậy không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Quốc T1 và được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lương Thế A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Lương Thế A 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 04/8/2025).
2. Về vật chứng: lưu hồ sơ vụ án 01 hoá đơn bán hàng kiêm bảo hành đề ngày 02/7/2025 của cửa hàng Đ có địa chỉ B, Phú Thọ do Bùi Quang B giao nộp.
3. Về án phí: Bị cáo Lương Thế A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại chưa thành niên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt./.
| CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
6
| Hoàng Thị Huyền | Trần Ánh Hồng | Vũ Văn Trung |
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trung |
Bản án số 21/2025/HSST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lương Thế A phạm tội trộm cắp tài sản
