Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ GIÁO

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quý.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lệ Hồng;
  2. Ông Phạm Văn Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 04/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HS ngày 10/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Đình H, sinh ngày 12/7/1983, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm thuê; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình H1 và bà Lê Thị H2; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07/7/2013, tại Quyết định số 001904/QĐ-XPHC của Công an phường A, quận B, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi phạm trong lĩnh vực an ninh trật tự; Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo theo Bản án số 31/2016/HSST ngày 20/04/2016 về tội trộm cắp tài sản; Toà án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xử 10 (mười) tháng tù theo Bản án số 148/2018/ST-ST ngày 20/04/2018 về tội trộm cắp tài sản; Toà án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử 12 (mười hai) tháng tù theo Bản án số 35/2018/HS-ST ngày 02/11/2018 về tội trộm cắp tài sản; Toà án nhân dân thị xã Bến Cát xử 08 (tám) tháng tù theo Bản án số 246/2018/ HS- ST ngày 09/12/2020 về tội trộm cắp tài sản; Toà án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử 11(mười một) tháng tù theo Bản án số 93/2021/HS-ST ngày 30/12/2021 về tội trộm cắp tài sản; bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 08/12/2024 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại:

  • Ông Huỳnh Văn T, sinh năm 1970; địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1967; địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Ông Tạ Chí V, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1981; địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Bà Trần Thị C, sinh năm 1984; địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Bà Danh Thị Tuyết S, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp N, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần Thanh H3, sinh năm 1980; địa chỉ: Tổ E, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
  • Ông Trần Danh Q, sinh năm 1999; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
  • Bà Lê Thị L, sinh năm 1978; địa chỉ: Phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1972; địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương; có văn bản đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 08/12/2024, H điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision, biển số 61G1-914.86 đi từ phường Đ, Thủ Dầu M, Bình Dương đến xã A, P, Bình Dương tìm các cửa hàng tạp hóa có sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi H đến tiệm tạp hoá “Tuyết Trinh” của bà Nguyễn Thị D đứng tên đăng ký kinh doanh và ông Huỳnh Văn T trực tiếp quản lý, kinh doanh tại ấp B, xã A, huyện P, tỉnh Bình Dương. H để xe mô tô ở đầu Đường ĐH503 cách tiệm tạp hoá khoảng 15m và đi bộ vào trong tiệm tạp hóa. H đã lén lút lấy 04 (bốn) cây thuốc lá hiệu 555 giấu vào trong áo khoác và mang ra cất giấu vào trong túi nilong màu đen treo ở xe mô tô. Sau đó, H tiếp tục quay lại tạp hoá “Tuyết Trinh”, lén lút lấy thêm 04 (bốn) cây thuốc lá hiệu Craven Classic giấu vào trong áo khoác và mang ra cất giấu vào trong túi nilong màu đen treo ở xe mô tô. Lúc này, ông Huỳnh Văn T phát hiện nên đã đuổi theo và bắt quả tang cùng tang vật, báo Công an xã A đưa H về trụ sở để làm việc.

Bản kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS đề ngày ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thuốc lá nhãn hiệu Caraven Classic tên thường gọi mèo lớn số lượng 40 gói; Thuốc lá nhãn hiệu 555, số lượng 40 gói, tại thời điểm định giá có giá trị: 2.320.000đ (hai triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng).

Ngoài ra, H còn khai nhận đã thực hiện 05 (năm) vụ trộm cắp tài sản khác tại 05 (năm) tiệm tạp hoá trên địa bàn xã A, cụ thê như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 05/12/2024, tại tiệm tạp hóa của bà Trần Thị C, bị cáo H chiếm đoạt được 03 (ba) cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc số lượng 30 (ba mươi) gói, 01(một) cây thuốc lá nhãn hiệu Hoà Bình số lượng 10 (mười) gói.

Bản kết luận định giá tài sản số 124/KL-HĐĐGTS đề ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc số lượng 30 gói; Thuốc lá nhãn hiệu Hoà Bình số lượng 10 gói, tại thời điểm định giá có giá trị: 600.000₫ (sáu trăm nghìn đồng).

Số thuốc lá này bị cáo H đã bán hết. Bà Lê Thị L là chị dâu của bị cáo H đã bồi thường cho bà C 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng).

Vụ thứ hai: Ngày 05/12/2024, tại tiệm tạp hóa của bà Danh Thị Tuyết S, bị cáo H chiếm đoạt được 04 (bốn) cây thuốc lá nhãn hiệu 555 số lượng 40 (bốn mươi) gói.

Bản kết luận định giá tài sản số 125/KL-HĐĐGTS đề ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thuốc lá nhãn hiệu 555, số lượng 40 gói, tại thời điểm định giá có giá trị: 1.400.000đ (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Số thuốc lá này bị cáo H đã bán hết. Bà Lê Thị L là chị dâu của Lê Đình H đã bồi thường cho bà S 1.400.000đ (một triệu bốn trăm nghìn đồng).

Vụ thứ ba: Ngày 08/12/2024, tại tiệm tạp hóa của ông Nguyễn Văn Đ, bị cáo H chiếm đoạt được 12 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc (số lượng 120 gói).

Bản kết luận định giá tài sản số 126/KL-HĐĐGTS đề ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thuốc lá nhãn hiệu sài gòn bạc, số lượng 120 gói, tại thời điểm định giá có giá trị: 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng).

Vụ thứ tư: Ngày 08/12/2024, tại tiệm tạp hóa của ông Tạ Chí V, bị cáo H chiếm đoạt được 06 cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven Classic, tên thường gọi mèo lớn, số lượng (60 gói) và 05 cây Caraven, tên thường gọi mèo nhỏ, số lượng (50 gói).

Bản kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS đề ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thuốc lá nhãn hiệu Caraven Classic tên thường gọi mèo lớn số lượng 60 gói; Thuốc lá nhãn hiệu Caraven tên thường gọi mèo nhỏ số lượng 50 gói, tại thời điểm định giá có giá trị: 2.200.000₫ (hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Vụ thứ năm: Ngày 08/12/2024, tại tiệm tạp hóa của bà Nguyễn Thị Thanh T1, bị cáo H chiếm đoạt được 04 (bốn) cây thuốc lá nhãn hiệu Hoà Bình số lượng 40 gói, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu YETT số lượng 20 gói và 05 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc số lượng 50 gói.

Bản kết luận định giá tài sản số 128/KL-HĐĐGTS đề ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc số lượng 50 gói; Thuốc lá nhãn hiệu YETT số lượng 20 gói; Thuốc lá nhãn hiệu Hoà Bình số lượng 40 gói, tại thời điểm định giá có giá trị: 1.600.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng).

Tổng giá trị tài sản Lê Đình H trộm cắp trong 06 (sáu) vụ là 9.920.000₫ (Chín triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng). Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo H các tài sản như sau:

  • 04 (bốn) cây thuốc lá hiệu ba số 555 (40 gói); 04 (bốn) cây thuốc lá hiệu Craven Classic (40 gói). Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại số thuốc lá này cho bị hại ông Huỳnh Văn T.
  • 12 (mười hai) cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc (số lượng 120 gói). Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại số thuốc lá này cho bị hại ông Nguyễn Văn Đ.
  • 06 (sáu) cây thuốc lá nhãn hiệu Caraven Classic, tên thường gọi mèo lớn, số lượng (60 gói) và 05 cây Caraven, tên thường gọi mèo nhỏ, số lượng (50 gói). Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại số thuốc lá này cho bị hại ông Tạ Chí V.
  • 04 (bốn) cây thuốc lá nhãn hiệu Hoà Bình số lượng 40 gói, 02 cây thuốc lá nhãn hiệu YETT số lượng 20 gói và 05 cây thuốc lá nhãn hiệu Sài Gòn bạc số lượng 50 gói. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại số thuốc lá này cho bị hại bà Nguyễn Thị Thanh T1.
  • Số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng), là tài sản của bị cáo H, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại số tiền này cho Lê Đình H.
  • 01(một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen đỏ, biển số 61G1-914.86, số máy JK03E7711874, số khung: RLHJK0327NZ091945 kèm giấy chứng nhận đang ký xe mô tô, do Trần Thanh H3 đứng tên chủ sở hữu. Ông H3 bán cho Trần Danh Q, ông Q bán cho một người thanh niên không rõ lai lịch. Ông H3 và ông Q không có yêu cầu gì đối với xe mô tô này.

Nội dung tại Cáo trạng số 11/CT-VKSPG ngày 22/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình H mức hình phạt từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp: Không đề nghị giải quyết.

- Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

- Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được việc vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội cải tạo thành người công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản ghi lời khai của bị hại cùng những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Với hành vi 06 (sáu) lần đến các tiệm tạp hóa thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản, tổng giá trị tài sản của các lần chiếm đoạt 9.920.000đ (Chín triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố tình thực hiện. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, đồng thời có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân để có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong 06 (sáu) lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản có 02 lần giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000đ (hai triệu đồng) nên hành vi của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị chiếm đoạt đã được thu hồi và giao trả cho bị hại, bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại; bị cáo có cha ruột là người có công được Nhà nước tặng thưởng “Huân chương kháng chiến hạng nhì” đây là các là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm g, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo một lần bị xử lý vi phạm hành chính và nhiều lần (05 lần) phạm tội trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành xong các bản án và được xóa án tích bị cáo tiếp tục phạm tội mới. Trường hợp của bị cáo được coi là người có nhân thân xấu.

[7] Xét đề nghị về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường thiệt hại. Ngoài ra người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị L là người thân đã bồi thường cho các bị hại thay cho bị cáo cũng không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[9] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

  • Quá trình giải quyết vụ án tài sản bị cáo chiếm đoạt, Cơ quan cảnh sát điều tra thu hồi và giao trả cho các bị hại nêu trên là có cơ sở nên chấp nhận.
  • Đối với số tiền 8.000.000đ (tám triệu đồng) là tài sản của bị cáo H và không liên quan đến hành vi phạm tội. Vì vậy, Cơ quan điều tra trả lại số tiền này cho bị cáo là có cơ sở nên chấp nhận.
  • Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen đỏ, biển số 61G1-914.86, số máy JK03E7711874, số khung: RLHJK0327NZ091945 kèm giấy chứng nhận đang ký xe mô tô, do Trần Thanh H3 đứng tên chủ sở hữu. Các chủ sở hữu xác định đã bán cho người khác nhưng không làm thủ tục sang tên. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thông tin tìm kiếm chủ sở hữu nhưng không có người đến nhận. Bị cáo xác định tài sản này bị cáo mua của người khác và sử dụng vào việc phạm tội nên cần sung Quỹ nhà nước.

[10] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 136, 260, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Đình H 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/12/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và bồi thường toàn bộ cho các bị hại. Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì khác nên không xem xét giải quyết.
  4. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:

    - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu, sung Quỹ nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen đỏ, biển số 61G1-914.86, số máy JK03E7711874, số khung: RLHJK0327NZ091945 kèm giấy chứng nhận đang ký xe mô tô mang tên Trần Thanh H3.

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/01/2025 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo).

  5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Đình H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo:

    - Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    - Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Phòng hồ sơ-Công an tỉnh Bình Dương (PV06);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Phú Giáo;
  • - Công an huyện Phú Giáo;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Giáo;
  • - Cổng Thông tin điện tử của TANDTC (nếu có);
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS, Tòa.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Quý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạt tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger