Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Ngọc Tiền

Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Phan Thùy Trang, bà Trần Thị Ánh Hằng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phát Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Quách Quân (Đ), sinh ngày 09 tháng 4 năm 1997, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ I, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách D, sinh năm 1971 (chết) và bà Huỳnh Thị Thu H, sinh năm 1970; vợ Đỗ Thị Ý L sinh năm 1999; có 04 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13 tháng 11 năm 2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt);

  2. Lê Văn C, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1994, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1972; vợ Lưu Thị Pỏ K, sinh năm 1996; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017.

    Tiền án, tiền sự: không;

2

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08 tháng 8 năm 2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

  1. Huỳnh Mạnh E (M1), sinh ngày 28 tháng 01 năm 1991, tại quận F, thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: số D, đường N, phường A, quận F, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H1, (chết) và bà Lư Thị Kim X, (chết); chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: không;

    Bị cáo bị tạm giam từ ngày 04 tháng 9 năm 2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm 1972; nơi cư trú: tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt);
  2. Đỗ Thị Ý L, sinh năm 1999; nơi cư trú: tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Lê Thành B (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 08/8/2024, Mạnh E đi bộ một mình đến nhà của Quách Q thuê tại tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang thì thấy nhà không khóa cửa, cũng không có Q ở nhà, nên Mạnh E ngồi nghỉ ở hành lang. Lúc này, Mạnh E điện thoại cho C, kêu C mua 300.000 đồng ma túy đá đến nhà của Q để sử dụng thì C đồng ý. Cảnh điện thoại qua ứng dụng Messenger của mạng xã hội Facebook cho người bạn có nick name “Việt” (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá, thì người này đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận. Sau đó, C điều khiển xe mô tô biển số 83F7 – 9091 đến nhà của Q để gặp Mạnh E, khi cả 02 đang ngồi nói chuyện thì người thanh niên bán ma túy gọi điện thoại kêu C đến Trường M2 cũ thuộc khóm V, phường N, thành phố C để nhận ma túy. Do C không có tiền nên Mạnh E đưa cho C 300.000 đồng để mua ma túy, sau khi nhận tiền Cảnh điều khiển xe mô tô đến điểm hẹn nhận 01 bọc ma túy đá để trong bọc nylon trong suốt, hàn kín rồi C mang về nhà Q để cùng Mạnh E sử dụng. Khi về đến nhà Q, C thấy Q chở Đỗ Thị Ý L (vợ của Q) vừa đi chợ về, C đi đến nói với Q “cho mình mượn chỗ chơi (sử dụng ma túy) chút nha” thì được Q đồng ý. Sau đó, C và Mạnh E đi vào gian bếp nhà của Q (cũng là chỗ ngủ của vợ chồng Q) để sử dụng ma túy. Do đã nhiều lần đến nhà Q, nên C biết Q có dụng cụ sử dụng ma túy để ở gian bếp, C lấy bình hút ma túy để ở trên vách bếp xuống, lấy kéo cắt xéo 01 đoạn ống hút nhựa, rồi lấy 01 ít ma túy vừa mua được cho vào nỏ của bình hút ma túy, dùng bật lửa đốt ma túy lên hút cùng với Mạnh E, số ma túy còn lại C vẫn để trong bọc nylon trong suốt, để ở vị trí cả 02 đang ngồi. Đến khoảng 10 phút sau, thì Lực lượng Công an phường N phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

3

Tang vật thu giữ: 01 bọc nylon trong suốt, hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 đoạn ống hút nhựa trong suốt, sọc trắng, hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 bình hút ma túy có nắp nhựa màu vàng, trên nắp có 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu cam, lỗ còn lại gắn nỏ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, một đầu cắt xéo; 01 bật lửa màu trắng (dụng cụ sử dụng ma túy); 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị hỏng cảm ứng; 01 điện thoại di động hiệu Redmi Note 13, màu xanh; 01 đĩa DVD hỏi cung bị can.

Kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, xác định: Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,2835 gam; Mẫu 2 gửi đến giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,1159 gam. Tổng số lượng 0,3994 gam.

Kết luận giám định số 1120/KL- KTHS ngày 26 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A xác định: Mẫu M1, M2, M3 gửi đến giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy theo nghị định 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.

Kết luận giám định số 1750/KL-KTHS ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A, ghi nhận: Không tiến hành giám định trích xuất dữ liệu lưu trữ trong 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme (ký hiệu A) gửi giám định: do màn hình cảm ứng của điện thoại không hoạt động bình thường, không truy cập được thiết bị.

Tại cáo trạng số 14/CT-VKSCĐ ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố các bị cáo Quách Q về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự; Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

Chủ tọa công bố lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Công bố kết luận giám định số 1121/KL-KTHS ngày 14 tháng 8 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh A.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Quách Q từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt đối với các bị cáo Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E, mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

4

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, do các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ 02 điện thoại di động, tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định và các dụng cụ sử dụng ma túy; tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị can.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố và không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xử phạt nhẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về nội dung:

[3] Tại phiên tòa, xét thấy lời khai nhận của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa là phù hợp nhau về thời gian, địa điểm và diễn biến về hành vi mà các bị cáo đã thực hiện. Ngoài ra, lời khai nhận của các bị cáo còn phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra và được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 08/8/2024, Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E đã có hành vi mua ma túy và lấy dụng cụ sử dụng ma túy của Q rồi sử dụng ma túy tại nhà của Q; Quách Q có hành vi cho mượn nhà của Q thuê để Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang, thu giữ 0,3994 gam loại Methamphetamine.

Hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo: Quách Quân đã phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm tù; Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E đã phạm tội “Tàng trữ trái phép

5

chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự tại địa phương, ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Quách Q là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi cho mượn nhà của Q thuê để Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua ma túy và lấy dụng cụ sử dụng ma túy của Q rồi sử dụng ma túy tại nhà của Q là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Quách Q, Lê Văn C, Huỳnh Mạnh E được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về Vai trò đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn không có sự câu kết chặt chẽ, không tổ chức phân công vai trò cụ thể; trong đó bị cáo C, Mạnh E cùng nhau tàng trữ trái phép chất ma túy; Quách Q có hành vi cho mượn nhà của Q thuê để C, Mạnh E sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang.

Xét tính chất của vụ án: Ma túy là chất gây nghiện ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, đời sống tinh thần của con người, gây nguy hiểm đến trật tự xã hội, trực tiếp gây nên hiểm họa HIV và là mầm móng, nguyên nhân kéo theo những loại tội phạm khác nên Nhà nước ta độc quyền quản lý; nghiêm cấm mọi hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép dưới mọi hình thức. Hành vi phạm tội của bị cáo Q thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng; các bị cáo C, Mạnh E thuộc trường hợp nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, ảnh hưởng trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để bị cáo nhận thức được sai lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Từ đó, mới cảnh tỉnh được các phần tử khác trong xã hội, góp phần ngăn ngừa tội phạm, ổn định trật tự xã hội, đảm bảo cuộc sống bình yên cho nhân dân.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản” và Theo quy định tại khoản 3 Điều 256 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, các bị cáo không có nghề nghiệp,

6

tài sản, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • Đối với lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 bình hút ma túy có nắp nhựa màu vàng, trên nắp có 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu cam, lỗ còn lại gắn nỏ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, một đầu cắt xéo; 01 bật lửa màu trắng là các dụng cụ sử dụng ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 phong bì màu trắng, được niêm phong bên ngoài có ghi ‘Vụ 1750/KL-KTHS ngày 18/12/2024: có chữ ký, chữ viết mang tên của bên giao GĐV Giáp Thanh T1, bên nhận Vũ Quốc H2 và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang (bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị hỏng cảm ứng, đã qua sử dụng); 01 điện điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi Note 13, màu xanh, số IMEI 1: 860818078109448, số IMEI 2: 860818078109455, gắn 02 sim mạng Viettel và V, đã qua sử dụng là các công cụ sử dụng vào việc phạm tội, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[7] Các vấn đề khác: Đối với người nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) đã bán ma túy cho Lê Văn C, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Quách Q (Đen) phạm tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Văn C và Huỳnh Mạnh E (M1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quách Q (Đen): 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/11/2024.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn C: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/8/2024.

7

Xử phạt bị cáo Huỳnh Mạnh E (M1): 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 04/9/2024.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  • Tịch thu tiêu hủy lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo và bao gói ma tuý hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu tiêu hủy 01 bình hút ma túy có nắp nhựa màu vàng, trên nắp có 02 lỗ nhỏ, một lỗ gắn đoạn ống hút nhựa màu cam, lỗ còn lại gắn nỏ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa màu đỏ, sọc trắng, một đầu cắt xéo; 01 bật lửa màu trắng là các dụng cụ sử dụng ma túy.
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 phong bì màu trắng, được niêm phong bên ngoài có ghi ‘Vụ 1750/KL-KTHS ngày 18/12/2024: có chữ ký, chữ viết mang tên của bên giao GĐV Giáp Thanh T1, bên nhận Vũ Quốc H2 và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, tỉnh An Giang (bên trong có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, màu xanh, màn hình bị hỏng cảm ứng, đã qua sử dụng); 01 điện điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Redmi Note 13, màu xanh, số IMEI 1: 860818078109448, số IMEI 2: 860818078109455, gắn 02 sim mạng Viettel và V, đã qua sử dụng là các công cụ sử dụng vào việc phạm tội.
  • Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án đĩa DVD hỏi cung bị can.

(Đặc điểm vật chứng được mô tả theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Quách Q; Lê Văn C; Huỳnh Mạnh E mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG (1)
  • - Viện KSND tỉnh AG (1);
  • - Viện KSND thành phố (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Phân trại tạm giam KVCĐ (2);
  • - Phòng hồ sơ (1);
  • - Chi cục THADS thành phố (1);
  • - Bộ phận THA Tòa án (1);
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1);
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về hình sự

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quách Quân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger