Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Bình;

2. Bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt;

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Tây Hạ, Thư ký Tòa án nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quốc – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2025/TLHS-ST ngày 22 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Thị H, sinh năm 1986 tại Campuchia; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn S, sinh năm 1960 và bà Trà Thị B, sinh năm 1964; chồng tên Dương Văn M, sinh năm 1977 (đã chết); con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18-11-2024 đến ngày 27-11-2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1997; nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 18-11-2024, Trần Thị H một mình điều khiển xe mô tô biển số 70B1-994.98 đi đến cửa hàng K thuộc tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh gặp chị Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1997 để mua 01 đôi bông tai vàng với số tiền 3.500.000 đồng. Sau khi thanh toán tiền và nhận vàng, H phát hiện 01 chiếc điện thoại Iphone 13 Promax màu xanh có ốp lưng nhựa màu trắng bạc của chị N để trên chiếc ghế bằng gỗ tại tiệm V không có ai trông coi nên H nảy sinh ý định trộm cắp điện thoại đem về sử dụng. Sau đó, H đến chiếc ghế bằng gỗ lấy trộm điện thoại của chị N bỏ vào túi áo khoác, sau đó điều khiển xe mô tô về vườn cao su thuộc ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, rồi vào chòi cất điện thoại. Sau đó, H bị Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh phát hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Trần Thị H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lần phạm tội này là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

Kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐG ngày 20-11-2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T, kết luận: 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax 128Gb màu xanh, số Imei 1: 353324563103496 tại thời điểm định giá ngày 18-11-2024 trị giá 12.667.000 đồng; 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu trắng bạc tại thời điểm định giá ngày 18-11-2024 trị giá 47.000 đồng.

Kết quả thu giữ vật chứng:

- Ngày 04-12-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax 128Gb màu xanh, số Imei 1: 353324563103496 và 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu trắng bạc cho chị Nguyễn Thị Bích N là chủ sở hữu hợp pháp.

- 01 (một) cái nón vải có vành nón tròn có chữ A-X; 01 (một) cái áo khoác thun màu xám; 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-994.98; số khung: RLPWCHBUM7B000003; số máy: VUMYG150FMH165003.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Bích N đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Kê biên tài sản: Qua xác minh thể hiện Trần Thị H không có tài sản, nên không tiến hành kê biên.

Bản cáo trạng số 23/CT-VKSTC ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Trần Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Thị H về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thị H từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị H.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Trần Thị H thừa nhận hành vi phạm tội như Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh truy tố và không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào ngày 18-11-2024, tại cửa hàng K thuộc tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Trần Thị H là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xanh có ốp lưng nhựa màu trắng bạc của chị Nguyễn Thị Bích N để trên chiếc ghế bằng gỗ, không có ai trông coi nhằm mục đích đem về sử dụng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Trần Thị H trộm cắp là 12.714.000 đồng. Hành vi của bị cáo Trần Thị H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu truy tố đối với bị cáo Trần Thị H và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án: Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng nhưng bị cáo Trần Thị H biết rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động chân chính nên hành vi phạm tội của bị cáo là trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác; gây mất trật tự, trị an xã hội tại địa phương nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra, do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị hại chị Nguyễn Thị Bích N xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Trần Thị H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa cho thấy bị cáo Trần Thị H không có tài sản riêng có giá trị, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thị H.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị hại chị Nguyễn Thị Bích N đã nhận lại tài sản bị mất trộm gồm 01 (một) điện thoại di động Iphone 13 Promax 128Gb màu xanh, số Imei 1: 353324563103496 và 01 (một) ốp lưng bằng nhựa màu trắng bạc và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 (một) cái nón vải có vành nón tròn có chữ A-X; 01 (một) cái áo khoác thun màu xám thu giữ của bị cáo Trần Thị H, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-994.98; số khung: RLPWCHBUM7B000003; số máy: VUMYG150FMH165003 không liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên trả lại cho bị cáo Trần Thị H nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 13-02-2025).

[8] Về án phí: Bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trần Thị H 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 18-11-2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái nón vải có vành nón tròn có chữ A-X; 01 (một) cái áo khoác thun màu xám.
    • Trả cho bị cáo Trần Thị H: 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-994.98; số khung: RLPWCHBUM7B000003; số máy: VUMYG150FMH165003 nhưng tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.

    Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

    Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

    (Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 13-02-2025).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự: Ghi nhận bị hại chị Nguyễn Thị Bích N không yêu cầu bị cáo Trần Thị H bồi thường gì thêm.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Trần Thị H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại chị Nguyễn Thị Bích N vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Châu;
  • - THA phạt tù;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Đội điều tra CA huyện Tân Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Quyên

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 21/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger