|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 25-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Thung.
- Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Chỉnh;
- Ông Phạm Kim An.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Quách Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Ngọc T, sinh năm 1998; nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Phan Văn T1 và bà Bạc Thị B; anh em ruột có 02 người, bị cáo là thứ nhất; có vợ là Đoàn Thị O và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày tạm giữ từ ngày 27/11/2024, đến ngày 06/12/2024 chuyển tạm giam; “có mặt”.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Đoàn Văn N, sinh năm 1991; nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
- Người làm chứng:
- Chị Lương Thị T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: Xóm I, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
- Chị Đoàn Thị O, sinh năm 1999; nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
Người chứng kiến: Ông Đoàn Ngọc K, sinh năm 1956; địa chỉ: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ bạn bè, quen biết nhau nên Phan Ngọc T biết Phạm Văn H có ma túy đá (Methamphetamine) bán. Khoảng 12 giờ 20 phút ngày 27/11/2024, T sử dụng điện thoại di động OPPO F3 có gắn sim số 035.662.4xxx gọi vào số điện thoại của H là 0968.765.xxx hỏi mua 300.000 đồng ma túy đá. H đồng ý, yêu cầu T chuyển tiền vào tài khoản của H rồi ra quán C ở xóm A, xã X, huyện X để nhận ma túy đá. T biết số tài khoản của H tại Ngân hàng M1 là 096.876.5xxx trùng với số điện thoại H nên đã đến của hàng mua bán điện thoại di động Công Thu ở xóm I, xã X, huyện X, đưa cho chị Lương Thị T2 là chủ cửa hàng 300.000 đồng nhờ chị T2 chuyển khoản cho H 285.000 đồng vào tài khoản trên còn 15.000 đồng là tiền công T trả cho chị T2. Sau khi chị T2 chuyển tiền xong, T chụp ảnh nội dung giao dịch chuyển tiền thành công gửi cho H và nhắn hẹn H 02 phút nữa sẽ có mặt tại quán C rồi điều khiển xe mô tô Yamaha Nouvo, BKS: 18F1-115.01 đi đến điểm hẹn. Trên đường đi, T gặp H đang đi xe mô tô Honda Wave màu da cam, không có yếm, không gắn biển kiểm soát. H đưa cho T 01 túi nilon màu trắng, dạng túi zip, kích thước (1,5x2) cm, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T xác định bên trong là ma túy đá, cất giấu ở túi quần phía sau bên trái rồi điều khiển xe đi tìm nơi sử dụng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T đang đi trên đường thuộc xóm A, xã X, huyện X thì bị Tổ công tác của Công an huyện X phát hiện có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra, T tự giác giao nộp 01 túi nilon vừa mua. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 túi nilon niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M, 01 điện thoại di động OPPO F3, sau khi thu giữ hình ảnh sao chụp nhật ký cuộc gọi, tin nhắn giữa T và H trong điện thoại thì niêm phong trong phong bì thư ký hiệu A. Ngoài ra, Tổ công tác còn thu giữ của T 01 xe mô tô BKS: 18F1-115.01. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Ngọc T nhưng không thu giữ đồ vật, tài liệu gì; khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phạm Văn H thu giữ: 01 túi nilon dạng túi zip, kích thước (2x2)cm bên trong có chứa các chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu K1); 01 lọ nhựa màu đen có phần nắp nhựa màu vàng, kích thước (4x4x13)cm, bên trong có chứa 01 cân điện tử màu đen; 01 túi nilon màu trắng dạng túi zip, kích thước (4x7)cm bên trong có chứa các chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 08 túi nilon màu trắng dạng túi zip, kích thước tương tự nhau (1,5x2)cm bên trong đều chứa các chất rắn dạng tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu K2); 41 túi nilon dạng túi zip màu trắng đều có kích thước thương tự nhau (1,5x2)cm, bên trong không chứa gì; 01 áo khoác nữ có mũ màu kem; 01 (một) xe mô tô Honda Wave màu cam, không gắn biển kiểm soát. Tại Cơ quan điều tra, Phan Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi mua ma
túy đá của Phạm Văn H để sử dụng cho bản thân như đã nêu ở trên, còn Phạm Văn H đã bỏ trốn khỏi địa phương, hiện không xác định được H đang ở đâu.
Kết quả xét nghiệm định tính Morphine ngày 27/11/2024 của Trung tâm y tế huyện X xác định: Phan Ngọc T dương tính với M.
Tại Bản kết luận giám định số 1926/KL-KTHS ngày 03/12/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu rắn dạng tinh thể màu trắng trong các túi nilon nhỏ dạng túi zip niêm phong trong phong bì thư ký hiệu M, K1, K2 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine; Khối lượng mẫu M: 0,114 gam, K1: 0,154 gam, K2: 6,071 gam.
Cáo trạng số 21/CT-VKSXT ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo Phan Ngọc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt chính: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- - Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Xử phạt bị cáo Phan Ngọc T từ 01 năm 10 tháng đến 02 năm tù;
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F3 của Phan Ngọc T sử dùng vào việc phạm tội, trả lại 01 xe mô tô BKS: 18F1-115.01 cho anh Đoàn Văn Nghĩa L anh rể của T, cho T mượn xe nhưng không biết T dùng để thực hiện hành vi phạm tội
Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ ngày 27/11/2024, tại xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, Phan Ngọc T đã mua của Phạm Văn H 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,114 gam với số tiền 285.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma tuý, T đi trên đường thuộc xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an huyện X phát hiện bắt quả tang, còn Phạm Văn H đã bỏ trốn khỏi địa phương. Vì vậy, hành vi của Phan Ngọc T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản,... làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Xét cần tịch thu sũng quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F3 của Phan Ngọc T sử dùng vào việc phạm tội. Xét trả lại 01 xe mô tô BKS: 18F1-115.01 cho anh Đoàn Văn Nghĩa L anh rể của T, cho T mượn xe nhưng không biết T dùng để thực hiện hành vi phạm tội
[8] Đối với Phạm Văn H, sau khi phạm tội đã đã bỏ trốn khỏi địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và Quyết định tách vụ án hình sự về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” của Phạm Văn H cùng các vật chứng gồm 01 phong bì thư hoàn trả mẫu vật giám định số 1926/KL-KTHS của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh N (trong đó có số ma tuý H bán cho T và số ma tuý thu giữ tại nhà H), 01 lọ nhựa màu đen bên trong có 01 cân điện tử, 41 túi nilon, 01 áo khoác nữ, 01 xe mô tô Honda Wave không gắn biển kiểm soát để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.
[9] Đối với chị Lương Thị T2 khi giúp T chuyển tiền cho H, chị T2 không biết số tiền này T chuyển cho H để mua ma túy; anh Đoàn Văn Nghĩa L anh rể của T, cho T mượn chiếc xe mô tô Yamaha Nouvo BKS: 18F1-115.01 nhưng không biết T dùng để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, rút kinh nghiệm đối với chị T2 và anh Nghĩa L phù hợp.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Phan Ngọc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- - Xử phạt bị cáo Phan Ngọc T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/11/2024.
2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu sũng quỹ nhà nước 01 điện thoại di động OPPO F3 của Phan Ngọc T;
- - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS: 18F1-115.01 cho anh Đoàn Văn N.
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 35/CCTHA ngày 25/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Phan Ngọc T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Thung |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 13 giờ ngày 27/11/2024, tại xóm 1, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định, Phan Ngọc T đã mua của Phạm Văn H 01 gói Methamphetamine có khối lượng 0,114 gam với số tiền 285.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma tuý, T đi trên đường thuộc xóm 1, xã XH, huyện XT, tỉnh Nam Định tìm nơi sử dụng thì bị Tổ công tác của Công an huyện XT phát hiện bắt quả tang, còn Phạm Văn H đã bỏ trốn khỏi địa phương.
