TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 24-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Nhi
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Quang Châu, nguyên là Giáo viên.
- - Bà Lê Thị Hòa, nguyên là Phó hiệu trưởng Trường tiểu học Kim Đồng.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Danh Quốc Khánh, là thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Hoàng Thành Đ, sinh ngày 22/10/2007, tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Thôn E, xã E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Nùng; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T, sinh năm 1982 và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1979; Chưa có vợ, con; tiền án: không, tiền sự: không.
Nhân thân:
- - Tại Quyết định số 08/QĐ-XPHC, ngày 19/9/2022 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Đăk Lăk (cũ) xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt cảnh cáo.
- - Tại Quyết định số 09/QĐ-XPHC, ngày 22/9/2022 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Đăk Lăk (cũ) xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt cảnh cáo.
- - Tại Quyết định số 29/QĐ-XPHC, ngày 14/10/2022 của Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Đăk Lăk (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã về hành vi trộm cắp tài sản, thời hạn 06 tháng, chấp hành xong ngày 14/4/2023.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/9/2025 cho đến nay, đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam số 08, Trại tạm giam số 02 – Công an tỉnh L – Có mặt.
Người giám hộ cho bị cáo Hoàng Thành Đ: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1982 (vắng mặt) và bà Hoàng Thị T1, sinh năm 1979 (có mặt), địa chỉ: Thôn E, xã E, tỉnh Đăk Lăk.
- - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thành Đ: Ông Hoàng Ngọc T2, sinh năm 1986 (Có mặt) và bà Bùi Thị H, sinh năm 1977 (Vắng mặt – có đơn xét xử vắng mặt) là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng, địa chỉ: H Đ, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng
- - Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thành Đ: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1978, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm T4 tỉnh Đắk Lắk, địa chỉ: số C L, phường B, tỉnh Đắk Lắk – Có mặt.
2. Lý V, sinh ngày 24/6/2008 tại tỉnh Đắk Lắk. Nơi cư trú: Bon R, xã N, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 02/12; giới tính: Nam; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chíu Tắc L, sinh năm 1986 và bà Lý Thị B, sinh năm 1985; Chưa có vợ, con; tiền án: không, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 27/9/2025 đến nay, đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam số 08, Trại tạm giam số 02 – Công an tỉnh L- Có mặt.
Người giám hộ cho bị cáo Lý V: Ông Chiu Tắc L1, sinh năm 1986 và bà Lý Thị B, sinh năm 1985, địa chỉ: Bon R, xã N, tỉnh Lâm Đồng – đều có mặt.
- - Người bào chữa cho bị cáo Lý V: Ông Hoàng Ngọc T2, sinh năm 1986 (Có mặt) và bà Bùi Thị H, sinh năm 1977 (Vắng mặt - có đơn xét xử vắng mặt) là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng, địa chỉ: H Đ, phường X - Đ, tỉnh Lâm Đồng
- Bị hại:
- Chị Trần Vũ Thu T3, sinh năm 2009, địa chỉ: Buôn J, xã E, tỉnh Đắk Lăk - Vắng mặt.
Người giám hộ cho chị T3: Ông Trần Văn A, sinh năm 1978, địa chỉ: Buôn J, xã E, tỉnh Đắk Lăk - Vắng mặt
- Ông Ngô Quang L2, sinh năm 1952, địa chỉ: B, xã K, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bàn Tòn D, sinh năm 2009, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
Người giám hộ cho anh D: Ông Lý Mùi N, sinh năm 1994, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
- Anh Triệu Văn Q, sinh năm 2010, địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
Người giám hộ cho anh Q: Ông Triệu Mùi D1, sinh năm 1981; địa chỉ: Thôn T, xã N, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
- Ông Nguyễn Quang C1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, tỉnh Lâm Đồng - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 08/5/2025, Hoàng Thành Đ đi bộ lang thang trên đường thuộc thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk; đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, Đ đi đến quán C2, thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk thì nhìn thấy xe gắn máy nhãn hiệu Espero biển kiểm soát (BKS) 47AB-084.93 của cháu Trần Vũ Thu T3 đang dựng ở nhà xe bên hông quán cà phê nên Đ nảy sinh ý định lấy trộm. Lúc này, Đ đi lại, quan sát thấy không có người trông coi nên lén lút dắt trộm chiếc xe đi ra đường, sau đó nhặt 01 cục đá ở trên đường đập bể phần nhựa gần ổ khóa xe rồi rút dây điện ổ khóa ra nối lại với nhau. Sau khi khởi động được xe, Đ điều khiển xe đến nhà Lý V ở bon R, xã N, tỉnh Lâm Đồng chơi.
Đến tối ngày 11/5/2025, Đ, V ngồi nhậu với Bàn Tòn D, Triệu Văn Q tại nhà V ở bon R, xã N, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ, V, D, Quyền rủ nhau đi hát karaoke; trước khi đi, D nói với Đ trên đường đi nếu thấy xe nào thì lấy trộm đi TP . Hồ Chí Minh luôn. Sau đó, V điều khiển xe gắn máy BKS 47AB - 084.93 chở Q, D, Đ đi ra hướng quán K, xã K. Khi đi đến khu vực Cầu Đ, bon D, xã K, tỉnh Lâm Đồng thì Đ phát hiện có 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 48C1-334.44 của ông Ngô Quang L2 đang dựng trên cầu, không có người trông coi nên Đ nói V lấy xe của ông L2 sử dụng. Nghe vậy, V dừng xe lại, Đ xuống xe đi lại chiếc xe mô tô thì thấy còn chìa khóa cắm trên xe nên Đ hỏi V có lấy không, V trả lời lấy. Sau đó, Đ ngồi lên xe mô tô BKS 48C1 - 334.44 nổ máy chạy đi theo sau xe mô tô của V chở D, Q đi đến quán K. Tại quán K, do không có tiền nên D đưa điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro của D cho anh Nguyễn Quang C1 - nhân viên quán karaoke để làm tin nhưng anh C1 không đồng ý mà yêu cầu phải để lại thêm xe mô tô BKS 48C1 - 334.44 nên Đ đưa chìa khóa xe này cho anh C1 rồi tất cả cùng đi vào phòng hát karaoke. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ, V, Q, D đang hát karaoke thì bị Công an đến mời về trụ sở làm việc.
*Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc BKS 48C1-334.44; - 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero BKS 47AB – 084.93 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038024 BKS đăng ký 47AB – 084.93.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐGTS ngày 13/5/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên các tài sản trong TTHS UBND huyện K kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc BKS 48C1 - 334.44 trị giá ngày 11/5/2025 là 11.000.000₫.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 50/KL-HĐĐGTX ngày 04/8/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên UBND tỉnh Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero BKS 47AB – 084.93 trị giá ngày 08/5/2025 là 2.100.000đ.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KV9 ngày 22 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng truy tố các bị cáo Hoàng Thành Đ, Lý V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Thành Đ, Lý V khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng đã truy tố.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng đã truy tố.
Kết quả tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng khẳng định việc truy tố các bị cáo Hoàng Thành Đ, Lý V ra trước Tòa án nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người đúng tội, đúng pháp luật và giữ nguyên bản cáo trạng số 01/CT-VKS-KV9 ngày 22/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Lâm Đồng đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.
- Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Đ từ 01 (một) năm đến 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/9/2025.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.
- Xử phạt bị cáo Lý V từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 27/9/2025.
- - Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị hại Ngô Quang L2 và Trần Vũ Thu T3 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số F74/QĐ-VPCQCSĐT ngày 31/7/2025, số 8467/QĐ-CSHS ngày 29/8/2025 trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc BKS 48C1 - 334.44 của Ngô Quang L2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero màu trắng đỏ BKS 47AB - 084.93 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038024 BKS đăng ký 47AB – 084.93 của Trần Vũ Thu T3.
Các bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý ông Hoàng Ngọc T2 bào chữa cho các bị cáo Hoàng Thành Đ, Lý V thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm về nhân thân và hoàn cảnh gia đình của các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, các bị cáo là trẻ vị thành niên, nên phần nào có hạn chế về nhận thức vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo Đ thấp nhất của khung hình phạt; áp dụng thêm Điều 54 của Bộ luật hình sự Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo V.
Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý ông Hoàng Văn C bào chữa cho bị cáo Hoàng Thành Đ thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 08/5/2025, tại quán C2 địa chỉ thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo Hoàng Thành Đ có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero BKS 47AB - 084.93 của chị Trần Vũ Thu T3, có giá trị là 2.100.000 đồng. Tiếp đó, vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 11/5/2025, tại khu vực gần Cầu Đ, thuộc B, xã K, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Đ cùng với bị cáo Lý V đã có hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 48C1 - 334.44 của ông Ngô Quang L2, có giá trị là 11.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản mà bị cáo Hoàng Thành Đ trộm cắp 02 xe mô tô là 13.100.000 đồng (2.100.000 đồng + 11.000.000 đồng) và hành vi đồng phạm của bị cáo Lý V chiếm đoạt tài sản 01 xe mô có giá trị 11.00.000 đồng.
Như vậy hành vi của các bị cáo Hoàng Thành Đ và Lý V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Lâm Đồng truy tố các bị cáo Hoàng Thành Đ và Lý V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là có căn cứ pháp lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của các bị hại được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo Hoàng Thành Đ đã trộm cắp tài sản của các bị hại trị giá 13.100.000 đồng. Bị cáo Lý V đã trộm cắp tài sản của bị hại trị giá 11.000.000 đồng. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Hoàng Thành Đ được 17 tuổi 06 tháng 17 ngày nên áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo Lý V được 16 tuổi 10 tháng 18 ngày nên áp dụng các quy định của pháp luật đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, mới có đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng đối với bị cáo Hoàng Thành Đ có nhân thân xấu nhiều lần, cụ thể đã 02 (hai) lần Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Đăk Lăk (cũ) xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, bằng hình thức phạt cảnh cáo và 01 (một) lần Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Đăk Lăk (cũ) áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã về hành vi trộm cắp tài sản, thời hạn 06 tháng. Trong vụ án này, bị cáo Đ phạm tội 02 lần trở lên nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Đ, V đều đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, do đó áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lý V phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Khi xét xử bị cáo Đ đã trên 18 tuổi nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Đ và V phạm tội đều dưới 18 tuổi nên áp dụng khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên để xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
[4]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị về mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận, mặt khác đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo Đ là gia đình thuộc hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, tuy nhiên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
[5]. Xét quan điểm Người bào chữa cho các bị cáo thống nhất quan điểm với Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9-Lâm Đồng về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo Đ và áp dụng thêm tình tiết “ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn” tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo V. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù các bị cáo chưa đủ 18 tuổi nhưng các bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản của các bị hại để tiêu xài cá nhân. Vì vậy, mức đề nghị của Người bào chữa cho các bị cáo là chưa đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội nên không chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người phạm tội từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án các bị hại ông Ngô Quang L2 và chị Trần Vũ Thu T3 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[8]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số F74/QĐ-VPCQCSĐT ngày 31/7/2025, số 8467/QĐ-CSHS ngày 29/8/2025 trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc BKS 48C1 - 334.44 của Ngô Quang L2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero màu trắng đỏ BKS 47AB - 084.93 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038024 BKS đăng ký 47AB – 084.93 của Trần Vũ Thu T3 nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9]. Đối với Bàn Tòn D và Triệu Văn Q tại thời điểm ngày 11/5/2025 Diết mới được15 năm 07 tháng 22 ngày tuổi và Quyền mới được 14 năm 06 tháng 16 ngày tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
[10]. Đối với việc Hoàng Thành Đ để xe mô tô BKS 47AB - 084.93 tại nhà Lý V và Triệu Văn Q có hành vi giúp Đ gỡ yếm xe mô tô BKS 47AB - 084.93, tuy nhiên V, Quyền không biết là xe mô tô do Đ trộm cắp nên không có căn cứ xử lý.
[11]. Đối với việc Hoàng Thành Đ để lại xe mô tô BKS 48C1 - 334.44 cho anh Nguyễn Quang C1 để hát karaoke, sự việc này do anh C1 đề nghị và ngay sau đó gia đình của các đối tượng đã thanh toán tiền karaoke cho anh C1, anh C1 không có yêu cầu gì nên sự việc không có dấu hiệu tội phạm.
[12]. Về án phí: Bị cáo Hoàng Thành Đ là cá nhân thuộc hộ nghèo có đơn xin miễn án phí. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do đó, bị cáo Đ được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Lý V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Thành Đ, Lý V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Hoàng Thành Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 27/9/2025.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và khoản 1 Điều 119 Luật tư pháp người chưa thành niên.
Xử phạt bị cáo Lý V 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 27/9/2025.
2. Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại ông Ngô Quang L2 và chị Trần Vũ Thu T3 không có yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng số F74/QĐ-VPCQCSĐT ngày 31/7/2025, số 8467/QĐ-CSHS ngày 29/8/2025 trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc BKS 48C1 - 334.44 của Ngô Quang L2; 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero màu trắng đỏ BKS 47AB - 084.93 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 038024 BKS đăng ký 47AB – 084.93 của Trần Vũ Thu T3.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Hoàng Thành Đ được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm; Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo Lý V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bào chữa cho bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Nhi |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thành Đ và Lý V trộm cắp tài sản
