|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày 24-6-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Diệp Văn Vĩ.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Côn, Ông Tạ Văn Doanh.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ca - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trung Kiên, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/HSST-QĐ ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trương Quang L, sinh ngày 02/3/1999
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Trương Hồng M (đã chết); Mẹ đẻ: Đinh Thị H, sinh năm 1972; Vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 07/01/2025 đến ngày 15/01/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại nơi cư trú (có mặt tại phiên toà).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Bà Đinh Thị H, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Hoàng Thị T1, sinh năm 2007 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người làm chứng:
- Ông Hoàng Văn M1, sinh năm 1966 (vắng mặt)
- Anh La Văn Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 19 giờ 10 phút ngày 07/01/2025 tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã T và Công an xã P trong quá trình tuần tra kiểm soát, phát hiện Trương Quang L, sinh năm 1999, trú tại thôn H, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang vận chuyển 01 (một) thùng bìa catton bên ngoài có chữ “THĂNG LONG” nghi là pháo nổ. Tiến hành kiểm tra bên trong thùng bìa catton thấy có 09 (Chín) vật hình hộp, kích thước 15x15x15cm, bên ngoài các vật hình hộp có quấn giấy màu, in chữ nước ngoài, mỗi vật hình hộp đều có dây dẫn, L khai đó đều là pháo hoa nổ do L mua của Vi Lương Quốc H1, sinh năm 1999 ở thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác đã thu giữ và niêm phong thùng bìa catton nghi là chứa pháo nổ nêu trên, ký hiệu là “QT”, đồng thời lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L; ngoài ra còn thu giữ của L 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead màu vàng BKS 98E1-377.17; 01 điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu đen đựng trong phong bì dán niêm phong, ký hiệu “ĐT”.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trương Quang L nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án; khám xét nơi ở của H1 (khi khám xét H1 không có mặt ở nhà; có Hoàng Thị T1, sinh năm 2007 trú tại xã T, huyện N, tỉnh Cao Bằng hiện đang sống như vợ chồng với H1) thu giữ:
- 04 (Bốn) túi nilon màu hồng đều được buộc thắt nút, bên trong đựng 45 (Bốn mươi lăm) quả hình dáng hồ lô, bên ngoài của mỗi quả có gián giấy màu đỏ, trên đầu của mỗi quả hình dáng hồ lô màu đỏ có gắn dây dẫn màu xanh, toàn bộ số đồ vật trên nghi là pháo nổ. Tất cả vật nghi pháo nổ trên được niêm phong trong hộp bìa catton có chữ nước ngoài, dán niêm phong ký hiệu “KX HÙNG”.
- 01 (một) thẻ nhớ có chữ MIXIE, 32GB của camera được nắp ở phía trước hiên nhà H1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ 1”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ VIDVIE, 32GB của camera được nắp ở cột giữa phòng khách nơi ở của H1 được niêm phong trong phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ 2”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ MIXIE, 32GB của camera được nắp ở phía sau nhà tại gian bếp của gia đình H1, niêm phong trong phong bì, ký hiệu “THẺ NHỚ 3”.
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng hồng, số IMEI: 356709082715901, đã qua sử dụng được để trong phong bì dán kín niêm phong lại ký hiệu là “ĐT HÙNG”.
Tại Kết luận giám định số 103/KL-KTHS ngày 14/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- Trong 01 (Một) thùng cát tông, bên ngoài có chữ “THĂNG LONG” ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: 09 (Chín) vật hình hộp, mỗi vật có kích thước (15 x 15 x 15)cm, bên ngoài mỗi vật hình hộp quấn giấy màu in chữ nước ngoài và có dây dẫn đều là P nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 12,8 kg (Mười hai phẩy tám ki lô gam);
- Trong 01 (Một) thùng cát tông ký hiệu “KX HÙNG” đã được niêm phong gửi giám định: 45 (Bốn mươi lăm) vật hình hồ lô, bên ngoài mỗi vật có dán giấy màu đỏ, trên một đầu của mỗi vật có gắn dây dẫn màu xanh, được đựng trong 04 (bốn) túi nilon màu hồng đều được buộc thắt nút đều là Pháo nổ (Pháo hoa nổ), có tổng khối lượng 4,0 kg (bốn phẩy không ki lô gam).
Quá trình điều tra, Trương Quang L khai về diễn biến hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 07/01/2025, L sử dụng số điện thoại 0338.296.xxx của L gọi đến số điện thoại 0582.077.xxx của Vi Lương Quốc H1 để trao đổi mua 09 (chín) bệ pháo hoa, loại 36 quả/1 bệ với giá 1.000.000đồng/1 bệ, mục đích L mua pháo hoa nổ để đốt vào dịp Tết Nguyên Đ1. Sau đó L và H1 tiếp tục gọi điện thoại cho nhau nhiều lần để trao đổi về việc mua bán, giao nhận số pháo nổ nêu trên. Khoảng hơn 17 giờ cùng ngày, L điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu HUYNDAI, màu xanh, biển kiểm soát 98C-328.68 của ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1979, trú tại thôn S, xã T, huyện L từ nhà của L đến nhà của ông T để bốc hàng (L được ông T thuê lái chiếc xe trên). Trên đường đi bốc hàng qua nhà H1, L đã rẽ vào nhà H1 để lấy pháo. Tại đây H1 giao cho L 01 thùng bìa catton bên ngoài có chữ “THĂNG LONG”, bên trong chứa 09 bệ pháo nổ, do chưa có tiền nên L bảo H1 cho nợ tiền mua pháo. Sau đó L bê thùng pháo nổ từ phòng khách của nhà H1 ra xe ô tô, H1 đi theo mở cửa xe ô tô giúp L, L để thùng pháo lên ghế phụ xe ô tô rồi sau đó L điều khiển xe ô tô đi theo đường Q hướng từ xã T đi thị xã C. Khi đi cách nhà H1 khoảng 200m thì L dừng xe lại và bê thùng pháo nổ nêu trên đi vào đường bê tông liên thôn thuộc thôn T, xã T, huyện L được khoảng 10 mét thì L giấu thùng pháo nổ vào bụi cây ven đường. Sau đó, L lái xe ô tô đến nhà ông T để xe ô tô tại đó để bốc hàng, còn L mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA Lead, màu vàng, biển kiểm soát 98E1-377.17 của ông T đi đến chỗ cất giấu thùng pháo để lấy mang về nhà, khi L đang bê thùng pháo lên xe mô tô thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ toàn bộ tang vật.
Ngoài ra, L khai trước đó L còn 02 lần khác đến nhà H1 mua pháo nổ. Cụ thể: Lần thứ nhất: vào ngày 10/12/2024 và lần thứ hai vào khoảng 17-18 giờ ngày 14/12/2024, mỗi lần L mua của H1 03 (ba) bệ pháo hoa nổ, loại giàn 36 ống(quả)/bệ được đựng trong túi nilon màu đen, với giá 1.100.000đồng/bộ. Sau khi mua được số pháo trên L đã sử dụng đốt vào các dịp tổ chức ăn uống, liên hoan tại gia đình. Đối với 02 lần mua pháo này của L, ngoài lời khai của L thì không còn căn cứ nào khác xác định L đã mua số pháo nổ trên của H1, mặt khác do L đã sử dụng hết, không thu hồi được để giám định xác định thành phần, định tính, khối lượng của số pháo trên, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Ngày 17/01/2025, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG màu đen thu giữ của Trương Quang L, kết quả: Tại mục danh bạ của điện thoại có lưu số điện thoại 0582.077.xxx, L khai đây chính là số điện thoại của H1. Tại mục các cuộc gọi đến, gọi đi phát sinh các cuộc gọi đến, gọi đi với số điện thoại 0582.077.xxx vào các ngày 07/01/2025, 05/01/2025, 04/01/2025, 03/01/2025, 02/01/2025, 01/01/2025, 31/12/2024, 23/12/2024, 20/12/2024, 19/12/2024, 18/12/2024, 16/12/2024, 15/12/2024, 14/12/2024, 12/12/2024, 10/12/2024, 27/11/2024. Tại phần tin nhắn có nội dung tin nhắn với số điện thoại 0582.077.xxx. Tuy nhiên, không có nội dung nào liên quan đến mua bán pháo nổ giữa L và H1.
Đối với Vi Lương Quốc H1 hiện không có mặt ở địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với H1 nhưng chưa có kết quả. Ngày 15/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Quyết định số 7215/QĐ-CSKT tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của Vi Lương Quốc H1 để làm rõ và xử lý sau.
Quá trình điều tra xác định ngày 07/01/2025 ông Nguyễn Văn T thuê L điều khiển chiếc xe ô tô trên để đi chở hàng, còn chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 98E1-377.17 L hỏi mượn ông T để đi về nhà. Ông T không biết L sử dụng xe ô tô và xe mô tô của ông làm phương tiện phạm tội, do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông T là có căn cứ.
Đối với chị Hoàng Thị T1 hiện đang sống như vợ chồng với Vi Lương Quốc H1, quá trình điều tra chị T1 khai không biết việc H1 cất giấu pháo trong nhà và bán pháo cho L. Do hiện nay chưa làm việc được với H1 nên chưa có căn cứ xác định T1 có liên quan đến vụ án và chưa xem xét xử lý đối với T1 là có căn cứ.
Về vật chứng vụ án:
- Đối với 11,4 kg pháo hoa (còn lại sau giám định) đựng trong 09 (chín) vật hình hộp, mỗi vật đều có kích thước (15 x 15 x 15)cm, tất cả đựng trong 01 (một) thùng cát tông, bên ngoài có chữ “THĂNG LONG” ký hiệu “QT” đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh B.
- Đối với 01 điện thoại SAMSUNG, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Quang L hiện, được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn để xử lý theo quy định.
- Đối với số vật chứng thu giữ khi khám xét nơi ở của Vi Lương Quốc H1 gồm: 3,2 kg pháo nổ (còn lại sau giám định) đựng trong 04 (Bốn) túi nilon màu hồng, để trong 01 thùng giấy catton có chữ nước ngoài, được niêm phong, ký hiệu “KX HÙNG”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ MIXIE, 32GB thu giữ trong camera phía trước hiên nhà H1, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ 1”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ VIDVIE, 32GB thu giữ trong camera nắp ở cột giữa phòng khách nơi ở của H1, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ 2”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ MIXIE, 32GB thu giữ trong camera nắp ở phía sau nhà tại gian bếp của gia đình H1, được niêm phong trong phong bì, ký hiệu “THẺ NHỚ 3”; 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng hồng, số IMEI: 356709082715901, được niêm phong ký hiệu “ĐT HÙNG” cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
Tại phiên tòa bị cáo Trương Quang L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Bị cáo không ý kiến gì nội dụng bản cáo trạng cũng như bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của đương sự vắng mặt tại phiên tòa trong quá trình điều tra. Bị cáo không có ý kiến gì về lời khai của đương sự vắng mặt.
Bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 10/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trương Quang L về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Quang L phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy đối với 11,4 kg pháo hoa (còn lại sau giám định) đựng trong 09 (chín) vật hình hộp, mỗi vật đều có kích thước (15 x 15 x 15)cm, tất cả đựng trong 01 (một) thùng cát tông, bên ngoài có chữ “THĂNG LONG” ký hiệu “QT” hiện nay đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh B; Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại SAMSUNG, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Quang L hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, kiểm sát viên thu thập: Hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập, trong quá trình điều tra truy tố, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử thấy rằng những tài liệu, chứng cứ thu thập là hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến kết quả xét xử, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của đương sự vắng mặt, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ý kiến gì. Căn cứ quy định tại Điều 292; 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Tại phiên toà Trương Quang L đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác, biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản xác định hiện trường; kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 10 phút ngày 07/01/2025, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, Trương Quang L đang có hành vi vận chuyển 09 bệ pháo hoa nổ, có tổng khối lượng 12,8 kg thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an tỉnh B phối hợp với Công an xã T và Công an xã P phát hiện bắt quả tang. Mục đích L vận chuyển số pháo hoa nổ nêu trên đem về nhà cất giấu để sử dụng.
[4] Hành vi của bị cáo Trương Quang L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã căn cứ và những tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và đề nghị Hội đồng xét xử kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng. Do đó, cần phải có hình phạt thích đáng đối với bị cáo để giáo dụng riêng và phòng ngừa chung về tội phạm.
[5] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Trương Quang L có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, sinh sống trong vùng kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết pháp luật hạn chế, xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và không gây nguy hiểm cho xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ để giáo dục riêng và phòng ngừa chung và theo đúng quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02 ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi tư), giao bị cáo cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang trong thời gian thử thách là có căn cứ nên Hội đồng xem xét chấp nhận.
[7] Đối với tội phạm này ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử thấy bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bố mất sớm, không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Đối với Vi Lương Quốc H1 hiện không có mặt ở địa phương, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy tìm đối với H1 nhưng chưa có kết quả. Ngày 15/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra Quyết định số 7215/QĐ-CSKT tách hành vi và tài liệu liên quan để tiếp tục điều tra, làm rõ hành vi của Vi Lương Quốc H1 để làm rõ và xử lý sau là có căn cứ.
Quá trình điều tra xác định ngày 07/01/2025 ông Nguyễn Văn T thuê L điều khiển chiếc xe ô tô trên để đi chở hàng, còn chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 98E1-377.17 L hỏi mượn ông T để đi về nhà. Ông T không biết L sử dụng xe ô tô và xe mô tô của ông làm phương tiện phạm tội, do đó cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với ông T là có căn cứ.
Đối với chị Hoàng Thị T1 hiện đang sống như vợ chồng với Vi Lương Quốc H1, quá trình điều tra chị T1 khai không biết việc H1 cất giấu pháo trong nhà và bán pháo cho L. Do hiện nay chưa làm việc được với H1 nên chưa có căn cứ xác định T1 có liên quan đến vụ án và chưa xem xét xử lý đối với T1 là có căn cứ.
[9] Về xử lý vật chứng:
- Ngày 18/1/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh B đã ra quyết định trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu vàng, biển kiểm soát: 98E1-377.17; 01 (Một) xe ô tô tải màu xanh, nhãn hiệu HYUNDAI, biển kiểm soát: 98C-328.68 (cùng giấy tờ xe) và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn T là có căn cứ.
- Đối với 11,4 kg pháo hoa (còn lại sau giám định) đựng trong 09 (chín) vật hình hộp, mỗi vật đều có kích thước (15 x 15 x 15)cm, tất cả đựng trong 01 (một) thùng cát tông, bên ngoài có chữ “THĂNG LONG” ký hiệu “QT” đang bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh B. Đây là vật Nhà nước cấm lưu hành, tàng trữ, là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại SAMSUNG, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Quang L hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, có giá trí sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với số vật chứng thu giữ khi khám xét nơi ở của Vi Lương Quốc H1 gồm: 3,2 kg pháo nổ (còn lại sau giám định) đựng trong 04 (Bốn) túi nilon màu hồng, để trong 01 thùng giấy catton có chữ nước ngoài, được niêm phong, ký hiệu “KX HÙNG”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ MIXIE, 32GB thu giữ trong camera phía trước hiên nhà H1, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ 1”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ VIDVIE, 32GB thu giữ trong camera nắp ở cột giữa phòng khách nơi ở của H1, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “THẺ NHỚ 2”; 01 (một) thẻ nhớ có chữ MIXIE, 32GB thu giữ trong camera nắp ở phía sau nhà tại gian bếp của gia đình H1, được niêm phong trong phong bì, ký hiệu “THẺ NHỚ 3”; 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng hồng, số IMEI: 356709082715901, được niêm phong ký hiệu “ĐT HÙNG” cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục làm rõ, xử lý sau là có căn cứ.
[10] Những vấn đề khác trong vụ án: Trương Quang L khai trước đó L còn 02 lần khác đến nhà H1 mua pháo nổ. Cụ thể: Lần thứ nhất: vào ngày 10/12/2024 và lần thứ hai vào khoảng 17-18 giờ ngày 14/12/2024, mỗi lần L mua của H1 03 (ba) bệ pháo hoa nổ, loại giàn 36 ống(quả)/bệ được đựng trong túi nilon màu đen, với giá 1.100.000đồng/bệ. Sau khi mua được số pháo trên L đã sử dụng đốt vào các dịp tổ chức ăn uống, liên hoan tại gia đình. Đối với 02 lần mua pháo này của L, ngoài lời khai của L thì không còn căn cứ nào khác xác định L đã mua số pháo nổ trên của H1, mặt khác do L đã sử dụng hết, không thu hồi được để giám định xác định thành phần, định tính, khối lượng của số pháo trên, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý là có căn cứ.
[11] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trương Quang L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Trương Quang L 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng về tội “Tàng trữ hàng cấm”, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/6/2025.
Giao bị cáo Trương Quang L cho UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Miễn hình phạt bổ xung cho bị cáo Trương Quang L.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy đối với 11,4 kg pháo hoa (còn lại sau giám định) đựng trong 09 (chín) vật hình hộp, mỗi vật đều có kích thước (15 x 15 x 15)cm, tất cả đựng trong 01 (một) thùng cát tông, bên ngoài có chữ “THĂNG LONG” ký hiệu “QT” hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh B.
- Tịch thu sung công quy nhà nước 01 điện thoại SAMSUNG, màu đen, đã qua sử dụng thu giữ của Trương Quang L hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trương Quang L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai bản án.
Án xử công khai sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Diệp Văn Vĩ |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG về hình sự (tàng trữ hàng cấm)
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ hàng cấm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN - TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Trương Quang L - Tàng trữ hàng cấm
