TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-ST Ngày: 21/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Đăng Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Nguyễn Minh Nam
2. Bà Lê Thị Thanh Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Ánh Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ao Minh Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Phú Nhuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 05/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025, đối với bị cáo:
ĐÀO NGUYỄN MINH T3, sinh ngày 11/4/1983 tại Thành phố Hồ Chí Minh;
Nơi đăng ký thường trú: số A Đ, Phường A (trước đây là Phường A), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, nơi ở hiện tại: số A H, Phường A (trước đây là Phường A), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Hoàn cảnh gia đình: con ông: Đào Minh T (đã chết) và bà: Nguyễn Phước Hoàng K, sinh năm 1956; vợ,con: chưa có.
Nhân thân:
- Ngày 22/8/1997 bị Ủy ban nhân dân Thành phố H ra Quyết định số 0128/QĐ ngày 10/4/1998 đưa vào trường giáo dưỡng 24 tháng. Đã chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 05/GCN ngày 11/5/2000 của Trường G, Cục V.
- Ngày 17/4/2001 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 18 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 34/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2000. Bản án đã được xóa án tích.
- Ngày 22/01/2003 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 02/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2002. Bản án đã được xóa án tích. Ông T3 đã nộp phạt 250.000 đồng, được miễn án phí hình sự 50.000 đồng và tiền phạt 4.750.000 đồng theo Quyết định số 37/2013/QĐ-MTHA ngày 27/9/2013 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận. Ông Đào Minh T1 không có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền 200.000 đồng.
- Ngày 27/6/2006 bị Tòa án nhân dân Quận 3 xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 86/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 09/01/2006. Bản án đã được xóa án tích. Ông T3 đã nộp án phí hình sự 50.000 đồng, đã nộp phạt bổ sung 400.000 đồng, được miễn nộp phạt 9.600.000.000 đồng theo Quyết định số 16/2015/QĐ-MGTHA ngày 16/9/2015 và Quyết định số 106/2018/QĐ-MGTHA ngày 17/5/2018 của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận.
- Ngày 22/11/2010 bị Ủy ban nhân dân quận P ra Quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh số 1096/QĐ thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong theo Quyết định áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú số 1175/QĐ-UBND ngày 12/10/2012 của UBND quận P.
- Ngày 28/11/2013 bị Ủy ban nhân dân quận P ra Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh số 1302/QĐ-UBND thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong theo Giấy chứng nhận số 252/GCN-TTCNMTBL ngày 20/9/2015 của Trung tâm C.
- Ngày 15/9/2020 bị Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 77/2020/QĐ-TA thời hạn 24 tháng. Đã chấp hành xong theo Thông báo số 1521/TB-CS3 ngày 13/3/2022 của Cơ sở cai nghiện ma túy số 3.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/8/2024, bị tạm giam ngày 15/8/2024 tại Trại tạm giam C – Phân trại tạm giam khu vực quận P.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Bà Quách Thị T2, sinh năm 2000
Nơi đăng ký thường trú: Thôn G, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình.
Nơi ở hiện tại: 5 L, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh
(có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ ngày 03 tháng 8 năm 2024, Đào Nguyễn Minh T3 điều khiển xe môtô Honda Wave biển số 59EA-046.91 lưu thông từ Quận C sang quận P, khi đi đến trước nhà số D đường N, Phường D (trước đây là Phường C), quận P, T3 nhìn thấy bà Quách Thị T2 đang để xe môtô Honda Vision màu đen dưới lòng đường, đi vào tiệm tạp hóa mua đồ, trên xe máy của chị T2 trước chỗ để chân có một túi xách màu trắng, T3 liền nảy sinh ý định lấy trộm túi xách bán lấy tiền tiêu xài. T3 liền điều khiển xe quay đầu lại chạy ngược chiều, lợi dụng lúc chị T2 không để ý, T3 dừng xe áp sát dùng tay trái lấy túi xách và phóng xe chạy ngược chiều tẩu thoát vào hẻm D đường N, Phường I, quận P.
Sau khi chiếm đoạt được tài sản của bà T2, T3 chạy xe về nhà tại số A đường H, Phường A (trước đây là Phường A), quận P, T3 mở túi xách kiểm tra, phát hiện tài sản bên trong gồm: 01 (một) máy tính xách tay, 01(một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, 01(một) cục sạc dự phòng, 01(một) tai nghe, 1 củ sạc, 2 dây sạc. T3 tháo SIM điện thoại Iphone gắn vào điện thoại của mình, lấy điện thoại Iphone XS mang theo; còn máy tính xách tay Thành để trong túi xách, bỏ vào vali màu đen trên chiếc nệm của T3 nằm;
Đến khoảng 18 giờ gày 04 tháng 08 năm 2024, khi Đào Nguyễn Minh T3 đang lưu thông trên đường N, Phường A (trước đây là Phường A), quận P thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính và mời về trụ sở Công an P (trước đây là Phường C), quận P làm việc, phát hiện T3 đang cất giữ chiếc điện thoại di động Iphone XS của chị T2 mà T3 đã lấy trộm như đã nêu trên;
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận P có Kết luận định giá tài sản số 38 ngày 12/8/2024 và số 15/KL-HĐĐGTS ngày 20/02/2025 kết luận:
- Máy tính xách tay Probook HP Core i5 15,6inch, đã qua sử dụng, có giá trị 5.500.000 đồng;
- Điện thoại di động hiệu Iphone XS, đã qua sử dụng, có giá trị 1.550.000 đồng;
- Cục sạc dự phòng hiệu Mimota, đã qua sử dụng, có giá trị 150.000 đồng;
- Tai nghe Airpod, đã qua sử dụng, có giá trị 100.000 đồng;
- Sim điện thoại số 0988.010.xxx đã qua sử dụng, có giá trị 95.000 đồng;
- Túi xách dựng máy tính xách tay, màu trắng, đã qua sử dụng, có giá trị 70.000 đồng;
- 02 dây sạc điện thoại màu trắng đã qua sử dụng, có giá trị 100.000 đồng;
- 01 củ sạc điện thoại màu trắng đã qua sử dụng, có giá trị 200.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 7.765.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra Công an quận P, Đào Nguyễn Minh T3 đã khai nhận lại toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS.PN ngày 03/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Đào Nguyễn Minh T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Đào Nguyễn Minh T3 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng.
Bị hại bà Quách Thị T2 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, bà T2 có bản tự khai trình bày đã nhận lại toàn bộ tài sản nên không có yêu cầu gì khác.
Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đào Nguyễn Minh T3 như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo T3 từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe máy hiệu Honda Wave, biển số 59EA-046.91, số khung RLHJA83RY006743, số máy JAE0022421, do bị cáo T3 đứng tên đăng ký sở hữu hợp pháp. Đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Lời nói sau cùng: Bị cáo T3 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Đào Nguyễn Minh T3, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận P, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai của bị cáo và chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người bị hại cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Quách Thị T2 đã nhận lại được toàn bộ các tài sản của mình bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
- Về vật chứng vụ án:
- 1 laptop hiệu HP Probook 450 G7, màu bạc, số Series 5CD02001Y1W kèm dây sạc, đã qua sử dụng
- 01 cái sạc dự phòng hiệu Mimota, màu hồng, dung lượng 2000mAh, kèm dây sạc, đã qua sử dụng
- 02 dây sạc điện thoại màu trắng, đã qua sử dụng
- 01 củ sạc điện thoại hiệu Reload, màu trắng, đã qua sử dụng
- 01 bộ tai nghe không dây đã qua sử dụng được để trong hộp màu trắng, có ốp trong suốt
- 01 điện thoại hiệu Iphone XS màu đồng, có ốp lưng màu đen
- 01 sim điện thoại số 0988.010.xxx
- 01 túi xách màu trắng, có chữ B và các hình vẽ màu xanh
- 01 cái điện thoại di động hiệu Nokia 105, số Imei1: 356851974210565, số Imei2: 356851974210560, đã qua sử dụng, bị cáo khai chỉ sử dụng để liên lạc.
- 01 mũ bảo hiểm màu trắng đen, đã qua sử dụng
- 01 áo thun màu nâu đỏ, có chữ Adidas trước ngực
- 01 quần lửng Jean.
- Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị hại bà Quách Thị T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng bà T2 đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Xét thấy việc vắng mặt của bị T2 không làm ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án nên Tòa án xét xử vắng mặt bà T2.
Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 12 giờ ngày 03/8/2024 tại trước nhà số D N, Phường D (trước đây là Phường C), quận P, Thành phố Hồ Chí Minh bị cáo Đào Nguyễn Minh T3 đã lợi dụng lúc bà T2 đậu xe dưới lòng đường, đi vào tiệm tạp hóa mua đồ liền lấy trộm 01 túi xách màu trắng mà bả Quách Thị T2 để trên xe rồi phóng xe chạy ngược chiều tẩu thoát vào hẻm D N, Phường I, quận P bỏ trốn. Các tài sản chiếm đoạt của bị hại có tổng giá trị là 7.765.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm sáu mươi lăm đồng).
Bị cáo thừa nhận do bản thân không có nghề nghiệp ổn định, cần tiền để chuộc lại các giấy tờ tùy thân nên đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Đồng thời nếu còn dư T3 dự định mua ma túy để sử dụng. Hành vi phạm tội do một mình T3 thực hiện.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận là có căn cứ nên chấp nhận.
Về nhân thân, bị cáo đã nhiều lần bị xử phạt về tội trộm cắp tài sản, cướp giật tài sản. Tuy đây không phải là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng Hội đồng xét xử cũng cân nhắc khi lượng hình.
5.1 Đối với các vật chứng thuộc sở hữu của bị hại bị mất trộm gồm:
Đã thu hồi ngay và trả lại toàn bộ cho bị hại. Bị hại không có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5.2 Đối với các vật chứng thuộc sở hữu của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, gồm:
Cơ quan điều tra đã trả cho đại diện của bị cáo và bị cáo đồng ý. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5.3 Đối với 01 (một) USB bằng kim loại ghi chữ Kingstone bên trong có lưu trữ dữ liệu camera thể hiện hình ảnh hiện trường xảy ra sự việc; lưu hồ sơ vụ án.
5.4 Đối với 01 (một) xe máy hiệu Honda Wave, biển số 59EA-046.91, số khung RLHJA83RY006743, số máy JAE0022421, do bị cáo T3 đứng tên đăng ký sở hữu hợp pháp. Đây là phương tiện bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban T4,
- Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Xử phạt bị cáo Đào Nguyễn Minh T3 01 năm 6 tháng tù (một năm sáu tháng tù) về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 06/8/2024.
Lưu hồ S vụ án: 01 (một) USB bằng kim loại ghi chữ Kingstone bên trong có lưu trữ dữ liệu camera thể hiện hình ảnh hiện trường xảy ra sự việc.
Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 chiếc xe máy hiệu Honda Wave, biển số: 59EA-046.91, SM: JAE022421, SK: RLHJA83RY006743.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 09/2025 ngày 22/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Phú Nhuận)
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Đăng Hà |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Nguyễn Minh T trộm cắp tài sản
