|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2025/HS-ST
Ngày: 01-4-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN THẠNH – TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Quân
Bà Lê Thị Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiếu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tý – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, Thông báo số 74/2025/TB.TA ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với:
Bị cáo: Trần Trung D (Tánh); sinh ngày 06/6/1978; tại: thị xã S, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 06/12; Trần Quang M, sinh năm 1950 (đã chết) và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955; vợ Đinh Trương Tường V, sinh năm 1984; con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 16/5/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; ngày 20/02/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp banh hành Quyết định khởi tố bị can về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và đã bị TAND tỉnh Đồng Tháp xét xử tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST ngày 23/01/2025 với hình phạt 09 (chín) tháng tù; bị cáo bị tạm giữ kể từ ngày 28/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 06/9/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Trần Thị Thúy H, sinh năm: 1980; nơi cư trú: Số G C/c Lô B, C phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 27/8/2024, Trần Trung D ở nhà tại ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, thì có một người đàn ông tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch), điện thoại liên lạc thuê D điều khiển xe ô tô đến thị xã K, tỉnh Long An để vận chuyển 18.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 10.000 bao nhãn hiệu JET, 4.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 4.000 bao nhãn hiệu HERO đến huyện L, tỉnh Vĩnh Long giao cho H1, tiền công vận chuyển 2.000.000 đồng, D đồng ý. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, màu sơn đồng, biển số 66A-105.36 lưu thông đến thị xã K, tỉnh Long An để nhận thuốc lá điếu ngoại nhập lậu. Khi đến thị xã K, tỉnh Long An, D gắn biển số giả 83A-149.75 lên trên biển số thật 66A-105.36 và điện thoại đến số điện thoại do H1 cho trước đó nhưng không xác định được số sim thì có người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) nghe máy, D hỏi địa điểm nhận thuốc lá điếu nhập lậu và thuê T xếp thuốc lá lên xe ô tô, cùng đi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với D, tiền công là 500.000 đồng, T đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe ô tô đến một bãi đất trống trên địa bàn thị xã K, tỉnh Long An nhưng không xác định được địa điểm cụ thể theo chỉ dẫn của T thì nhìn thấy thuốc lá điếu nhập lậu đã chất sẵn, lúc này T cũng đi bộ đến gặp D. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, sau khi T xếp thuốc lá lên xe ô tô xong, D điều khiển xe ô tô chở 18.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu cùng T, lưu thông về huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe ô tô đến đoạn đường Q thuộc huyện T, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Long An ra tín hiệu dừng xe nhưng D tiếp tục điều khiển xe ô tô chạy một đoạn thì dừng xe lại và rút chìa khóa xe ô tô bỏ chạy trốn vào đồng ruộng. Sau đó, D tự nguyện ra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKSTT, ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh truy tố bị cáo Trần Trung D về tội “Vận chuyển hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đồng thời phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Trần Trung D gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt: bị cáo Trần Trung D từ 05 năm đến 06 tù.
Vật chứng trong vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 45, 47 Bộ luật hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy 18.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu và 01 biển số 83A-149.75 qua xác minh không có dữ liệu đăng ký trên hệ thống, là biển số giả; đề nghị hoàn trả 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, màu sơn: đồng, biển số 66A-105.36, số máy: ITRA675824, số khung: RL4JW3EM3K3368899 cho bà Trần Thị Thúy H.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn hối hận về hành vi của mình xin giảm nhẹ hình phạt với mức án thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
-
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Trung D khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở xác định được: Khoảng 16 giờ ngày 27/8/2024, Trần Trung D được một người đàn ông tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thoả thuận thuê vận chuyển 18.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 10.000 bao nhãn hiệu JET, 4.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 4.000 bao nhãn hiệu HERO, tiền công 2.000.000 đồng. Sau đó, D thoả thuận thuê T (không rõ nhân thân, lai lịch) xếp thuốc lá lên xe ô tô và cùng đi vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, tiền công 500.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, khi D điều khiển xe ô tô vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu đến đoạn đường Quốc lộ 62 thuộc huyện T, tỉnh Long An thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Long An phát hiện thu giữ toàn bộ tang vật như trên.
Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Trần Trung D có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Trần Trung D đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm là thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với số lượng trên 4.500 bao. Do đó, hành vi của Trần Trung D đã phạm tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An truy tố bị cáo với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức được việc vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý hàng hóa mà nhà nước cấm lưu thông, cấm kinh doanh, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trên cơ sở đánh giá mức độ ảnh hưởng của tội phạm, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân cả bị cáo.
-
Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Trần Trung D thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có mẹ ruột tên Nguyễn Thị P tham gia kháng chiến chống Mỹ được Chính phủ tặng giấy khen theo Quyết định số 36/QĐ/TTg ngày 13/5/2005; bị cáo có đóng góp cho địa phương trong công tác phòng, chống dịch Covid năm 2021 được Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp gửi Thư cảm ơn; gia đình cha mẹ của bị cáo có thành tích tốt trong phong trào phát triển kinh tế, xã hội của địa phương; ông nội của bị cáo được khen thưởng có thành tích trong phong trào đoàn thể của địa phương; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo tự nguyện đầu thú nên được giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo được xem là không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo đã từng bị kết án về hành vi phạm tội nên được xác định là nhân thân xấu. Cụ thể: Ngày 16/5/2011, bị Trần Trung D Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã được xóa án tích; Ngày 20/02/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định khởi tố bị can về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo được tại ngoại phục vụ điều tra. Trong thời gian được tại ngoại thì bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm vào ngày 27/8/2024, bị bắt quả tang và tạm giam đến nay. Ngày 23/01/2025, TAND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử Trần Trung D về hành vi “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST với hình phạt 09 (chín) tháng tù.
- Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, chưa có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình, xã hội và để răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
-
Về tổng hợp hình phạt: Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TAND tỉnh Đồng Tháp đã có hiệu lực thi hành theo Quyết định thi hành án phạt tù số 26/2025/QĐ-CA ngày 24/02/2025 của Chánh án TAND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, cần tổng hợp hình phạt của bản án có hiệu lực pháp luật với hình phạt bị xét xử về tội “Vận chuyển hàng cấm” để buộc bị cáo phải chấp hành theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Từ phân tích trên, xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng căn cứ pháp luật, về hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Về hình phạt bổ sung: đối với tội “Vận chuyển hàng cấm”, bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 4 điều 191 BLHS. Tuy nhiên, xét thấy hiện hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo có khó khăn, bị cáo có nghề nghiệp làm thuê, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
-
Đối với các vấn đề có liên quan:
Đối với người đàn ông tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thuê D vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu và người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người sắp xếp thuốc lá điếu nhập lậu và cùng bị cáo D vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu. Trong quá trình điều tra, bị cáo chỉ biết được tên là H1 và T, không biết rõ họ tên thật, không biết nhân thân, lai lịch. Bị cáo chỉ liên lạc với H1 và T qua số điện thoại nhưng bị cáo không nhớ số điện thoại của H1 và T, điện thoại cùng sim điện thoại của D trong quá trình bỏ chạy đã bị rơi mất, bị cáo mới mua sim khuyến mãi nên không nhớ số sim điện thoại của mình. Qua điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An không có cơ sở xác định được nhân thân, lai lịch của H1 và T. Do đó, Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét xử lý trong vụ án..
Đối với bà Trần Thị Thúy H là chủ sở hữu hợp pháp xe ô tô biển số 66A-105.36, bà H cho bị cáo thuê xe ô tô biển số 66A-105.36 để chở khách. Vào ngày 27/8/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô trên vận chuyển thuốc lá điếu ngoại nhập lậu, bà H không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Long An không xem xét xử lý là đúng theo quy định.
-
Về vật chứng: căn cứ quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự, xử lý vật chứng như sau:
- Đối với 18.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 10.000 bao nhãn hiệu JET, 4.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 4.000 bao nhãn hiệu HERO là hàng hoá Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, màu sơn: đồng, biển số 66A-105.36, số máy: ITRA675824, số khung: RL4JW3EM3K3368899 là tài sản hợp pháp của bà Trần Thị Thúy H, sinh năm 1978, HKTT: 76B C/c Lô B,C, phường P, quận T, Tp . (chị ruột của D), bà H cho bị cáo Trần Trung D thuê xe ô tô để chạy dịch vụ (chở khách), bà H không biết bị cáo sử dụng xe ô tô trên làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên giao trả xe ô tô nêu trên cho bà H.
- Đối với 01 biển số 83A-149.75 qua xác minh không có dữ liệu đăng ký trên hệ thống, là biển số giả, bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.
- Về án phí: Bị cáo Trần Trung D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Trung D phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: bị cáo Trần Trung D 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2024).
- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt chung bị cáo phải chấp hành với hình phạt 09 (chín) tháng tù của Bản án số 09/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 05 (năm) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2024).
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Trung D 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (01/04/2025) để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 18.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu gồm: 10.000 bao nhãn hiệu JET, 4.000 bao nhãn hiệu SCOTT, 4.000 bao nhãn hiệu HERO; 01 biển số 83A-149.75
- Giao trả cho bà Trần Thị Thúy H 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, loại xe INNOVA, màu sơn: đồng, biển số 66A-105.36, số máy: ITRA675824, số khung: RL4JW3EM3K3368899
Hiện tất cả vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Thạnh đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKSTT, ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Thạnh.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Trần Trung D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331, 333 Bộ Luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Ngọc Ánh |
HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An về hình sự về tội "vận chuyển hàng cấm"
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Vận chuyển hàng cấm"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trung D phạm tội "Vận chuyển hàng cấm"
