|
TAND HUYỆN TAM ĐƯỜNG TỈNH LAI CHÂU Bản án số 21/2025/HS-ST Ngày 26/3/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hồ Thị Tuyết
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Hương;
Ông Vàng Văn Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Sùng A Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đường
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường tham gia phiên toà: Bà Lò Phương Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu là điểm cầu trung tâm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 10/3/2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/HSST-QĐ ngày 25/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Giàng A D Không có tên gọi khác; Giới tính: Nam;
Sinh ngày 01/01/1976;Tại: T, Lai Châu;
Nơi ĐKHKTT: Bản Can Hồ, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Mông; Tôn giáo: Tin lành; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Giàng A L, sinh năm 1950; con bà Cứ Thị G (đã chết). Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Vợ: Lù Thị A, sinh năm 1980, con: 05 con, con lớn nhất sinh năm 2005 (đã chết), con nhỏ nhất sinh năm 2012; Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 16/2021/HS-ST, ngày 23/11/2021, Giàng A D bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17, điều 38; Điều 58 BLHS xử phạt 02 năm 01 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 24/12/2023 Giàng A D chấp hành xong án phạt tù và nghĩa vụ dân sự. Đến thời điểm phạm tội ngày 02/01/2025, bị cáo chưa được xóa án tích theo quy định; Tiền sự: Không.
Bị cáo Giàng A D bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh L cho đến nay.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lù Thị A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Bản C, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu (Có mặt)
* Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến Trại tạm giam công an tỉnh L gồm có:
- Bị cáo Giàng A D có mặt.
* Điểm cầu thành phần: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L gồm có: Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 02/01/2025, Giàng A D, sinh ngày 01/01/1976, trú tại Bản C, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-177.87 (xe mô tô là tài sản chung của Giàng A D và Lù Thị A, sinh năm 1980, trú tại cùng bản) đi từ nhà đến xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu mục đích đi tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến cầu N, thuộc bản P, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu, D gặp một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua trao đổi, D mua được 01 gói Heroine, bên ngoài gói bằng mảnh nilon màu trắng đốt dính một đầu với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được H1, D cầm gói Heroine trong lòng bàn tay trái, rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, còn người đàn ông bán Heroine cho D đi đâu, làm gì D không biết.
Hồi 13 giờ 00 phút ngày 02/01/2025, khi Giàng A D đi đến bản Sàn Phàng Thấp, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị Công an xã S phối hợp cùng Công an xã K, huyện T dừng xe kiểm tra, sau khi tổ công tác giải thích, vận động và yêu cầu D có đồ vật, tài liệu liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật thì tự giác giao nộp, lúc này D tự giác khai nhận đang tàng trữ 01 gói Heroine trong lòng bàn tay trái, tổ công tác tiến hành kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.
Bản Kết luận giám định số 131/KL-KTHS ngày 05/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Gói chất bột màu trắng có tổng khối lượng 0,296 gam; Mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (H2), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất (không hoàn lại mẫu vật gửi giám định).
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSTĐ, ngày 19/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo Giàng A D về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận điều tra và bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lù Thị A trình bày: Chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-177.87 do bà Lù Thị A bỏ tiền ra mua lại nhưng chưa làm thủ tục sang tên, chiếc xe được sử dụng chung trong gia đình, khi bị cáo D lấy xe đi bà A không biết việc bị cáo D sử dụng chiếc xe để đi mua ma túy, bà A đề nghị được nhận lại chiếc xe trên. Ngoài ra bà A không có yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Giàng A D từ 30 tháng đến 36 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 02/01/2025. Áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,16 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, mảnh nilon màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Giàng A D. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn YAMAHA SIRIUS, màu Đen - Trắng, biển kiểm soát: 25B1-177.87.
Người bào chữa trình bày luận cứ bào chữa và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Giàng A D và đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo và đề nghị trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 25B1-177.87 cho bà Lù Thị A.
Kiểm sát viên đối đáp: Đối với đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Kiểm sát viên cho rằng với mức án mà Viện kiểm sát đề nghị phù hợp với tính chất hành vi phạm tội, với nhân thân của bị cáo nên Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp có tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Đối với đề nghị trả lại chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-177.87 cho bà Lù Thị A, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự thì chiếc xe mô tô BKS 25B1-177.87 là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước, việc trả lại là không có căn cứ đề nghị HĐXX không chấp nhận đề nghị của người bào chữa.
Bị cáo Giàng A D không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường.
Tại lời nói sau cùng bị cáo Giàng A D xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Giàng A D đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định: Hồi 13 giờ 00 phút, ngày 02/01/2025, tại bản Sàn Phàng T, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, Giàng A D đang tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,296 gam để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an xã S phối hợp với Công an xã K phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo có đủ khả năng nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, làm tổn hại cho sức khỏe, nhân phẩm của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Như vậy, đủ cơ sơ để khẳng định hành vi của bị cáo Giàng A D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, quan điểm xử lý trách nhiệm hình sự của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật, có căn cứ chấp nhận.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa xóa án tích), đi chấp hành án, chịu sự giáo dục nghiêm khắc nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Khi bị lực lượng chức năng phát hiện, bị cáo tự giác giao nộp gói heroine đang tàng trữ; bố đẻ bị cáo là ông Giàng A L được Bộ chứng nhận đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/11/2021 Giàng A D bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên xử phạt 02 năm 01 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 24/12/2023, Giàng A D chấp hành xong hình phạt tù. Đến thời điểm phạm tội ngày 02/01/2025 bị cáo chưa được xóa án tích. Vì vậy lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là Tái phạm.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Chấp nhận ý kiến của người bào chữa về tội danh, điều khoản áp dụng, hình phạt bổ sung, án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo. Đối với yêu cầu của người bào chữa đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng đối với bị cáo cần có mức án tương xứng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo làm ruộng, thu nhập không ổn định, gia đình thuộc hộ nghèo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đối với 0,136 gam heroine (trong tổng số 0,296 gam Heroine thu giữ của Giàng A D) đã gửi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xem xét
Đối với 0,16 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, mảnh nilon màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Giàng A D là vật thuộc loại cấm tàng trữ, cấm lưu hành, công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đen - trắng, biển kiểm soát: 25B1-177.87. Tại phiên tòa, người bào chữa và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lù Thị A đề nghị trả lại chiếc xe trên. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, xác định chiếc xe được mua trong thời kì hôn nhân là tài sản chung của bị cáo Giàng A D và bà Lù Thị A và được sử dụng chung trong gia đình, bị cáo đã sử dụng chiếc xe trên làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội. Tuy bà Lù Thị A khai không biết việc bị cáo sử dụng xe vào mục đích phạm tội nhưng chiếc xe là vật chứng vụ án, là phương tiện phạm tội, không phải là đối tượng tranh chấp của vụ án dân sự và không phải là đối tượng của vụ việc phân chia tài sản chung. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự “Việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước... được áp dụng đối với: Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội” và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự “Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội...thì bị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước hoặc tiêu hủy”. Như vậy, điều luật quy định tịch thu vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội. Do đó, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Lù Thị A, cần tịch thu chiếc xe trên để sung Ngân sách nhà nước.
[6] Những vấn đề liên quan:
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Giàng A D vào ngày 02/01/2025 tại cầu N thuộc Bản P, xã B, huyện T, tỉnh Lai Châu. Do nhân thân lai lịch của người đàn ông này không rõ ràng nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý.
Đối với Lù Thị A: Kết quả điều tra xác định, khi Giàng A D sử dụng xe mô tô để làm phương tiện phạm tội Lù Thị A không biết, do đó Lù Thị A không đồng phạm với Giàng A D về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
[7] Về án phí:
Tại phiên tòa, bị cáo Giàng A D đề nghị hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Xét thấy, gia đình bị cáo Giàng A D thuộc hộ nghèo, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Giàng A D thuộc trường hợp miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Giàng A D 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 02/01/2025.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy 0,16 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu vật gửi giám định, mảnh nilon màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu thu giữ của Giàng A D.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn YAMAHA SIRIUS, màu đen - trắng, biển kiểm soát: 25B1-177.87.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 20/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Tam Đường).
4. Về án phí: Bị cáo Giàng A D được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình lên Tòa án nhân dân cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hồ Thị Tuyết |
Bản án số 21/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giàng A Dua phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
